Tiêm phòng khi mang thai lần đầu cần tiêm phòng những bệnh gì tiêm ở đâu tốt nhất đảm bảo an toàn cho thai nhi nhất? - Chuẩn bị mang thai - Làm mẹ - diendanphunu.vn | Diễn đàn phụ nữ & Thế giới Phụ nữ Online lớn nhất Việt Nam
Tìm kiếm:  
 
 
 
22/11/2011 04:37:53 PM
Tiêm phòng khi mang thai lần đầu cần tiêm phòng những bệnh gì tiêm ở đâu tốt nhất đảm bảo an toàn cho thai nhi nhất?

Cần tiêm ngừa thế nào trước khi mang thai

Các bác sĩ sản khoa khuyên chị em phụ nữ nên tiêm ngừa trước khi mang thai để đảm bảo bé sinh ra an toàn, khỏe mạnh. Tuy nhiên, những phụ nữ không tiêm ngừa cũng không nên quá lo lắng, gây ảnh hưởng bất lợi tới thai nhi.

Chị T.T.Vân (Q.3, TP.HCM) lấy chồng được hai tháng. Nghe bạn bè tư vấn, chị đến Viện Pasteur tiêm ngừa trước khi có thai. Sau khi yêu cầu chị làm xét nghiệm máu kiểm tra virut siêu vi B, virut rubella, bác sĩ tại đây cho chị tiêm ngừa cúm, thủy đậu và rubella, dặn một tháng sau là có thể có thai. Tuy nhiên gặp lại bạn thân, cô ấy bảo bác sĩ sản khoa khuyên tốt nhất sau sáu tháng hãy có thai.

Nỗi lo mang tên… tiêm ngừa

Giật mình, chị lên mạng tìm hiểu và phát hoảng trước những thông tin tư vấn không giống nhau của các bác sĩ: người nói ba tháng, người bảo sáu tháng.

Một trường hợp khác cho biết sau khi tiêm ngừa rubella vài ngày, chị phát hiện mình mang thai. Đi khám tư, bác sĩ khuyên bỏ thai. Chị làm theo, nhưng sau đó lo lắng không biết mình có thể mang thai nữa không do chị đã lớn tuổi.

Không như hai trường hợp trên, Ngọc Anh (Q.12, TP.HCM) kể: một mặt do chồng hối thúc, một mặt do “lời phán” của mẹ và chị gái “tao có tiêm gì đâu mà vẫn đẻ con khỏe re”, chị không đi tiêm ngừa. Tuy nhiên sau khi mang thai, qua bạn bè và mạng Internet, chị được biết nếu mắc bệnh rubella trong thời gian mang thai sẽ rất nguy hiểm cho thai nhi, trong khi bệnh rubella ngày càng phổ biến và không có cách nào hữu hiệu để “né”. Lo lắng, chị không dám tới chỗ có đám đông, luôn đeo khẩu trang y tế khi đi ra ngoài.

Theo TS.BS Lê Thị Thu Hà (Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM), tiêm ngừa trước khi mang thai giúp phòng ngừa các bệnh có thể ảnh hưởng trên thai như sởi, quai bị, rubella, thủy đậu… Nếu mắc những bệnh này trong thời gian mang thai, người mẹ dễ có nguy cơ sẩy thai, thai lưu, thai suy dinh dưỡng, dị tật bẩm sinh.

Đặc biệt, nếu nhiễm rubella trong ba tháng đầu thai kỳ, khả năng 90% thai nhi bị hội chứng rubella bẩm sinh gồm các dị tật bẩm sinh như: đục thủy tinh thể, điếc, các vấn đề liên quan đến tim mạch, gan lách to, viêm màng não…, trong đó điếc bẩm sinh không thể chẩn đoán được trước khi sinh. Nếu người mẹ nhiễm rubella ở khoảng tuần lễ 16 của thai kỳ thì xác suất ảnh hưởng lên thai nhi giảm còn 20%, nếu nhiễm sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ thì yên tâm vì rất hiếm gặp dị tật trong giai đoạn này.

Chuẩn bị tốt, mẹ con đều an toàn

Sau khi chích ngừa bao lâu thì được có thai? ThS.BS Nguyễn Hồng Hoa (giảng viên bộ môn sản Đại học Y dược TP.HCM) cho biết một tháng sau khi chích ngừa đã có thể mang thai. Riêng với rubella, lúc đầu các chuyên gia y tế khuyến cáo nên đợi ba tháng sau khi chích ngừa, tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có thể mang thai an toàn sau khi chích ngừa một tháng.

Đối với viêm gan siêu vi B (gồm ba mũi tiêm), hiệu quả bảo vệ tối đa là ba tháng sau mũi tiêm cuối cùng. Tuy nhiên, nếu có thai trong thời gian đang chích ngừa cũng không ảnh hưởng gì, người mẹ có thể chích tiếp hoặc đợi sau khi sinh tiêm mũi nhắc lại.

Theo TS.BS Lê Thị Thu Hà, về lý thuyết, nguy cơ gây dị tật cho thai nhi sau tiêm ngừa là 1,6%, tuy nhiên thực tế vẫn chưa có bằng chứng cụ thể về dị tật bẩm sinh do thuốc tiêm ngừa gây ra. Vì vậy những trường hợp phát hiện có thai ít lâu sau khi tiêm ngừa vẫn không được khuyên bỏ thai do có nguy cơ bị nhiễm trùng lòng tử cung, thủng tử cung, băng huyết, vô kinh do dính buồng tử cung… Riêng trường hợp tiêm ngừa rubella, cần đến bệnh viện gặp bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn nên giữ hay bỏ thai.

Đối với những người đã mang thai mà chưa tiêm ngừa, TS.BS Lê Thị Thu Hà khuyên đừng nên lo lắng, vì lo lắng cũng ảnh hưởng đến thai kỳ. Điều quan trọng là cần giữ vệ sinh cơ thể tốt, tránh nơi đông người, tránh vào vùng đang có dịch bệnh, ăn uống bồi dưỡng đầy đủ chất, ưu tiên các chất có vitamin C, uống nhiều nước…

Còn bác sĩ Phạm Thị Hải Châu (Bệnh viện Hùng Vương, TP.HCM) lưu ý chị em tránh lao lực mệt nhọc, tránh để bị nhiễm lạnh, nên mang khẩu trang trong khi tiếp xúc với những người nghi ngờ hoặc đang mắc các bệnh nhiễm siêu vi, khử trùng mũi họng với nước muối sinh lý…

“Tốt nhất chị em phụ nữ nên có sự chuẩn bị ít nhất ba tháng trước khi mang thai, gồm cả kiến thức – tâm lý, dinh dưỡng, đi khám sức khỏe để được bác sĩ tư vấn chích ngừa và uống axit folic để đảm bảo sức khỏe tốt nhất cho thai nhi” – ThS.BS Nguyễn Hồng Hoa khuyên.

Chuẩn bị cho lần đầu mang thai

Được làm mẹ là thiên chức và niềm vui của mỗi người phụ nữ. Tuy nhiên, lần đầu mang thai cũng khiến không ít chị em băn khoăn, lo lắng và hồi hộp. Những lời khuyên dưới đây sẽ giúp bạn chủ động chuẩn bị về mọi mặt để tự tin chào đón bé yêu ra đời.

Chuẩn bị về mặt tâm lý

Đa số phụ nữ khi lần đầu làm mẹ sẽ không lường trước được những bất ổn tâm lý diễn ra trong suốt thai kỳ. Khi mang thai, rất nhiều chị em cảm thấy mệt mỏi, buồn nôn, thèm ăn vô cớ, khó chịu trong người, dễ quên, cáu gắt... do sự thay đổi hooc-môn bên trong cơ thể. Chính sự thay đổi sinh lý này đã làm ảnh hưởng đến tâm lý khi mang thai. Dưới đây là những thay đổi tâm lý thường gặp giúp bạn có thể chủ động thích nghi:

- Tuần đầu mang thai: Người mẹ thường có tâm lý hồi hộp, đôi khi ngờ vực, lo sợ, tình cảm lẫn lộn.

- Ba tháng đầu: Do bị ốm nghén, nhiều thai phụ cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung, cáu kỉnh và dễ quên.

- Vào tháng thứ 4-6: Người mẹ bắt đầu phát sinh những tình cảm đặc biệt với em bé, với những người thân xung quanh do sự cử động của thai nhi.

- Vài tuần cuối của thai kỳ: Người mẹ cảm thấy nặng nề và lo lắng về kỳ sinh sắp tới. Nhiều phụ nữ có thể phát sinh tâm lý buồn chán, cô đơn.

Khi mang thai bạn nên chú ý nếu tới những biểu hiện như trên. Chồng và người thân cũng nên quan tâm, động viên và hướng bà bầu tới các hoạt động giải trí, thư giãn nhằm ổn định tâm lý. Nếu các triệu chứng như khó ngủ, chán ăn, lo âu hoặc chán nản... kéo dài trên hai tuần, chị em nên tới gặp bác sỹ để được tư vấn.

Thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý

Một chế độ dinh dưỡng bổ sung khi mang thai là rất cần thiết cho sức khỏe của mẹ và bé. Với mỗi giai đoạn mang thai, cần một chế độ dinh dưỡng khác nhau. Trong 4 tháng đầu, bạn chưa cần ăn uống quá tẩm bổ mà chỉ cần đủ mức dinh dưỡng thông thường, kết hợp uống thêm 1 ly sữa và 1 viên đa sinh tố mỗi ngày. 5 tháng tiếp theo, bạn nên thực hiện  chế độ ăn thêm đặc biệt, thêm khoảng 300 calo mỗi ngày so với bình thường:

- Cung ứng một lượng acid béo cần thiết cho sự phát triển não bộ của bào thai.

- Tỷ lệ cân đối calo giữa đạm/béo/bột-đường, có thể đề nghị bằng 14: 31: 55.

- Tăng cường các nguyên tố vi lượng như chất sắt, canxi, magiê, kẽm, vitamin B, acid folic, vitamin C, E, D và beta-caroten bằng việc ăn uống đa dạng theo tháp dinh dưỡng.

- Đặc biệt, bạn cần bổ sung nguyên tố sắt khi mang thai vì thiếu sắt sẽ dẫn đến chứng thiếu máu, tăng nguy cơ đẻ non ở bà mẹ. Chế độ dinh dưỡng tốt nhất là sử dụng các thực phẩm tăng cường sắt, kết hợp với thực phẩm giúp hấp thu chất sắt, đặc biệt là uống bổ sung viên sắt đều đặn suốt thời gian mang thai theo chỉ dẫn của bác sỹ.

Tập thói quen chăm sóc sức khoẻ

Sức khỏe của bà mẹ khi mang thai có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của thai nhi. Hơn ai hết, các chị em chính là người cảm nhận rõ những diễn biến, thay đổi khác thường trong cơ thể mình. Tập thói quen chăm sóc sức khoẻ cũng như nhận biết các dấu hiệu sức khoẻ khi mang thai là điều bạn nên thực hiện từ bây giờ.

- Trước khi mang thai, bạn nên đi tiêm phòng một số bệnh như cúm, Rubella vì nếu mắc những bệnh này trong 3 tháng đầu của thai kỳ, thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh rất cao. Việc tiêm vaccine nên tiến hành ít nhất 1 tháng trước khi mang thai.  Bạn cũng nên đi khám răng miệng, lấy cao răng để hạn chế viêm lợi, viêm quanh cuống, abces răng - những bệnh răng miệng mà phụ nữ mang thai và sau khi sinh rất dễ mắc phải. Ngoài ra, cả gia đình nên đi tẩy giun trước khi bà mẹ mang thai để tránh sự lấy nhiếm chéo cho thai phụ.

- Đối với những phụ nữ đã từng bị sẩy thai, trước khi mang thai trở lại cần phải chuẩn bị tốt về mặt sức khoẻ: đảm bảo về chỉ số khối cơ thể BMI>=18,5 (BMI = cân nặng (kg)/ chiều cao x chiều cao (m); chồng không hút thuốc lá, không uống rượu và các chất kích thích, vì sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai và gây dị tật cho thai nhi; cần khám phụ khoa, siêu âm ổ bụng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết theo sự chỉ dẫn của bác sỹ.

- Khi mang thai, bạn phải tuyệt đối tránh xa những chất độc hại như thuốc diệt muỗi, hoá chất tẩy rửa, hoá chất nhuộm tóc... Trong vận động, bạn nên từ tốn, tránh nhấc vật nặng và thực hiện những động tác mạnh bạo vì lúc mang thai, các dây chằng trở nên mềm hơn, dễ bị sang chấn hơn. Khi bị cảm cúm, bạn không nên tự ý dùng thuốc mà phải đi khám bác sỹ ngay để xác định nguyên nhân, để được kê đơn thuốc hợp lý. Khi bị giãn tĩnh mạch do mang thai, đặc biệt là bị trĩ và táo bón, bạn nên ăn nhiều rau quả, tập thể dục, mặc quần áo rộng và bôi thuốc để đám trĩ co lại. Ngoài ra, bạn nên tập luyện cách rặn thở để giúp việc sinh con trở nên dễ dàng.

Bồi dưỡng kiến thức về chăm sóc trẻ

Phụ nữ trong giai đoạn mang thai rất cần được hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng và ăn kiêng hợp lý, cách điều trị các bệnh không thể trì hoãn, cách bổ sung các chất cần thiết, cách phát hiện sớm trường hợp thai nguy cơ và việc tiêm phòng uốn ván...

Sau khi sinh, các bà mẹ cũng cần được cung cấp kiến thức về chăm sóc sản phụ và trẻ sơ sinh như: chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho cả mẹ và con; cách cho bé bú sữa mẹ, cách tắm rửa, vệ sinh, phòng chống nhiễm khuẩn các bệnh như viêm phế quản phổi, nhiễm trùng rốn, viêm mắt sơ sinh v.v... Những kiến thức này cần phải được trang bị một cách bài bản và có hệ thống.

Vì vậy, hơn cả việc đầu tư mua sắm đồ đạc, quần áo, tiện nghi cho bé, các bà mẹ cần phải đầu tư cho mình lượng kiến thức đầy đủ để có thể chủ động chăm sóc bé yêu của mình một cách tốt nhất.

Cách tốt nhất để giúp bạn trang bị đầy đủ và hiệu quả những kiến thức trên là tham gia vào các khoá học chuyên biệt dành riêng cho các bà mẹ.

Phòng cúm cho phụ nữ mang thai

Bệnh cúm là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, do virus gây ra. Cúm rất dễ lây từ người này sang người khác. Nhiều phụ nữ khi mới mang hai lần đầu thường băn khoăn, lo lắng không biết mức độ ảnh hưởng của cúm sẽ ảnh hưởng thế nào tới sức khỏe của mẹ và thai nhi?

Nguy cơ đối với mẹ

Trước hết, cần khẳng định rằng phụ nữ khi mang thai dễ bị lây nhiễm cúm hơn và khi bị cúm thì thường nặng hơn phụ nữ bình thường. Bởi vì khi mang thai, cơ thể có sự giảm sút khả năng miễn dịch, do đó cúm nguy hiểm hơn với những phụ nữ mang thai. Tuy tỷ lệ tử vong của cúm rất thấp, song nguy cơ đó tăng lên nhiều lần đối với phụ nữ mang thai. Điều đáng lo ngại là không chỉ cúm mà hầu hết những bệnh do virus gây ra ở phụ nữ mang thai thường kéo dài hơn ở những phụ nữ khác. Trung bình một trường hợp bệnh cúm có thể kéo dài từ 3 – 4 ngày. Nhưng với phụ nữ mang thai có thể lâu hơn nhiều.
Một nguy cơ của bệnh cúm đó là bệnh cúm có thể dẫn đến viêm phổi do virus. Vì phụ nữ mang thai có nhu cầu oxy lớn hơn bình thường trong khi hệ miễn dịch yếu đi, dó đó, viêm phổi ở phụ nữ mang thai nguy hiểm hơn nhiều. Còn các triệu chứng khác như: sốt, ho khi bị cúm ở phụ nữ mang thai không nặng hơn ở những phụ nữ khác.

Nguy cơ đối với thai

Phụ nữ mang thai bị cúm có thể gây ra một số nguy cơ đối với thai nhi, nhất là trong những tháng đầu của thai kỳ. Một số trường hợp, phụ nữ mang thai bị cúm có thể làm tăng khả năng sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non trong những tháng cuối của thai kỳ. Ngoài ra, nếu phụ nữ mang thai bị cúm có thể còn dẫn đến những dị tật bẩm sinh nhẹ ở thai nhi như: hở hàm ếch… Tuy nhiên, hiếm khi có dị tật bẩm sinh nặng ở não.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu của Viện Tâm thần New York (Hoa Kỳ) đã khẳng định có mối tương quan giữa sự nhiễm cúm của người mẹ trong thời kỳ mang thai, với nguy cơ rối loạn tâm thần khi bé trưởng thành. Các nhà nghiên cứu cho rằng, não bộ của thai nhi rất dễ bị tổn thương do bệnh cúm của người mẹ trong năm tháng đầu. Nguyên nhân của hiện tượng này là:

- Các kháng thể cúm của mẹ lọt qua nhau thai và tác động xấu đến hệ miễn dịch còn non nớt của bào thai.

- Sự hiện diện của những chất liệu gen của virus cúm.

- Thân nhiệt của mẹ tăng cao.

- Các thuốc trị cúm có ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh trung ương của thai nhi.

Phòng ngừa và điều trị

Mùa cưới thường bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau, dù bạn bắt đầu có thai vào thời gian nào cũng dễ rơi vào mùa cúm. Vì vậy, nếu có điều kiện, bạn có thể tiêm vắc-xin phòng cúm. Xét về hiệu quả, tuy chưa được khẳng định hoàn toàn, song thực tế cho thấy hiện chưa có biện pháp dự phòng cúm nào cho người mang thai tốt hơn vắcxin. Xét về nguy cơ, vắc-xin cúm đã được chứng minh là vô hại. Thai phụ sau khi tiêm có thể hơi đau chỗ tiêm hoặc đau cơ, sốt và rét run, nhưng các triệu chứng này rất hiếm gặp.

Những phản ứng dị ứng có liên quan tới thành phần albumin trong khâu sản xuất vắc-xin cũng hiếm và có thể phòng ngừa bằng cách tuân thủ các quy định về chống chỉ định tiêm phòng. Trên thực tế, nếu có tiền sử dị ứng với vắcxin cúm hoặc với các thành phần trong khâu sản xuất vắc-xin như lòng trắng trứng, một số kháng sinh và chất bảo quản thì không nên tiêm. Nói chung, người ta khuyên nên tiêm phòng vắcxin cúm cho phụ nữ mang thai hoặc có khả năng mang thai khi nguy cơ lây nhiễm cao.

Trong trường hợp bạn bị cúm, cách điều trị chủ yếu là nâng cao sức đề kháng (tăng cường dinh dưỡng, vitamin C, dầu cá, các vitamin nhóm B…), chờ bệnh lui, kết hợp dùng một số thuốc chữa triệu chứng. Tuy nhiên, đối với phụ nữ mang thai không được tự dùng thuốc mà nên đi khám và uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ

Theo BS. Nguyễn Thu Phương
Sức khỏe và Đời sống

TIÊM PHÒNG UỐN VÁN KHI MANG THAI

Tác giả : BS. ĐÀO XUÂN DŨNG

Hỏi: Trong thời kỳ có thai, người mẹ cần tiêm phòng uốn ván vào lúc nào và tiêm mấy mũi? Lần có thai sau có thể tiêm ít đi được không?

(Thu Hà - TPHCM)

Trả lời: Phụ nữ (có thai hoặc không có thai) đang độ tuổi sinh đẻ, chưa từng được tạo miễn dịch với biến độc tố uốn ván cần được tiêm chủng để bảo vệ chính họ và cả trẻ sơ sinh. Nói chung, tổng số lần tiêm là 5 lần, sau 5 lần có tiêm nhắc lại hay không còn tùy thuộc vào thai nghén sau cách mũi cuối cùng bao lâu.

Với những phụ nữ trước đây chưa được tiêm thì thời gian biểu để tiêm 5 liều phòng uốn ván như sau:

- Liều đầu tiên biến độc tố uốn ván ở lần khám thai đầu tiên, hoặc trong khi có thai càng sớm càng tốt.

- Liều thứ 2 sau liều thứ nhất ít nhất 4 tuần.

- Liều thứ 3 ít nhất 6 tuần sau liều thứ 2.

- Hai liều cuối cùng được tiêm ít nhất một năm sau hoặc trong kỳ thai nghén sau.

Sách chuẩn quốc gia ở nước ta quy định về tiêm phòng uốn ván cho thai phụ như sau:

1. Thai phụ hoàn toàn chưa được tiêm phòng uốn ván thì hẹn tiêm 2 mũi cách nhau ít nhất 1 tháng và trước sinh ít nhất 15 ngày. Nếu thai phụ đến đăng ký sớm thì tiêm mũi đầu vào tháng thứ 4 hoặc 5 và mũi thứ hai sau đó 1 tháng.

2. Thai phụ đã tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi hoặc mới chỉ tiêm 1 mũi trước đây thì hẹn tiêm 1 mũi vào tháng thứ 4 hoặc thứ 5.

3. Thai phụ khi còn nhỏ đã được tiêm chủng mở rộng 3 mũi bạch hầu, ho gà, uốn ván thì tiêm thêm 1 mũi vào tháng thứ 4 hoặc thứ 5.

4. Thai phụ đã được tiêm phòng 3-4 mũi uốn ván từ trước, lần tiêm cuối cùng đã trên 1 năm thì tiêm thêm 1 mũi nhắc lại.

5. Thai phụ đã được tiêm 5 mũi uốn ván. Không cần tiêâm bổ sung, vì với 5 mũi khả năng bảo vệ trên 95%. Nhưng nếu mũi thứ 5 đã trên 10 năm thì nên tiêm nhắc lại.

Như vậy, dù đã tiêm 4-5 mũi từ trước thì lần có thai sau đã quá 1 năm vẫn cần tiêm nhắc lại.

Uốn ván là bệnh do vi khuẩn Clostridium tetani tiết độc tố thần kinh mạnh gây ra, phát triển trong mô hoại tử của những vết thương bẩn và trong dây rốn nếu như cuộc sinh không sạch. Tạo miễn dịch bằng biến độc tố uốn ván - độc tố đã bị mất hoạt lực. Mọi trẻ đều cần được tiêm biến độc tố uốn ván vào tuần thứ 6, 10 và 14 sau sinh.  


Tác giả
#7938
22/11/2011 04:49 PM

Tiêm phòng khi mang thai

Em có thai được 4 tháng ,em phải tiêm phòng chưa ? và em phải tiêm vào tháng thứ mấy? (nguyễn thị thư)

Trả lời:

Bạn nên chăm đến gặp bác sĩ khi mang thai

Để được mẹ tròn con vuông, một trong những việc quan trọng nhất là theo dõi chặt chẽ thai kỳ bằng cách đi khám ít nhất 3 lần. Với các trường hợp có thai sau khi điều trị vô sinh, điều này càng trở nên cần thiết nhằm phát hiện và can thiệp kịp thời những bất thường có thể xảy ra.

Mục đích của khám thai định kỳ là theo dõi sự phát triển, thay đổi của mẹ hay tình trạng bệnh lý của mẹ như cân nặng, ăn uống, nám mặt, sạm da, cao huyết áp do thai, bệnh tim mạch... và phát hiện những bất thường của thai.

Thai kỳ phát triển qua 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn được gọi là 1 tam cá nguyệt, tương ứng với 13 tuần.

- Tam cá nguyệt đầu (3 tháng đầu): Từ khi mang thai đến khi thai tròn 3 tháng. Đây là thời kỳ hình thành và hoàn thiện các cơ quan của thai nhi.

- Tam cá nguyệt thứ hai (3 tháng giữa): Là giai đoạn tăng trưởng, nếu tình trạng thai chậm phát triển xảy ra trong thời kỳ này thì thường rất nặng.

- Tam cá nguyệt thứ ba (3 tháng cuối): Là giai đoạn tăng trọng, thường xuất hiện những biến chứng của thai kỳ như cao huyết áp do thai, tiền sản giật, chảy máu âm đạo do nhau tiền đạo...

Lịch khám tùy thuộc vào tuổi thai hay các vấn đề của từng tam cá nguyệt. Lần khám đầu tiên bắt đầu vài ngày sau khi mất kinh hay trễ kinh. Đây là lần khám rất quan trọng, nhất là với những người từng sẩy thai trước đó, vì bác sĩ sẽ tập trung đánh giá sức khỏe của mẹ và xác định vấn đề mang thai. Từ đó đến khi được 28 tuần, thai phụ sẽ đi khám 4 tuần/lần, tiếp theo là giai đoạn khám 2 tuần/lần (đến 36 tuần tuổi). Giai đoạn cuối cùng, thai phụ phải đến gặp bác sĩ hằng tuần. Với những thai kỳ có vấn đề như ra huyết, dọa sinh non, mẹ có bệnh lý..., bác sĩ sẽ cho lịch khám riêng.

Trong quá trình khám thai, người mẹ sẽ được tiêm phòng uốn ván với 2 mũi, cách nhau 1 tháng, mục đích là phòng ngừa uốn ván rốn cho trẻ sơ sinh, mỗi mũi tiêm ngừa cách nhau 1 tháng.

Các xét nghiệm cần làm trong thai kỳ gồm: xét nghiệm nhóm máu, Hemoglobin (xác định tình trạng thiếu máu, thiếu sắt), đường trong máu, bệnh lây truyền qua đường tình dục (như viêm gan B, giang mai, HIV, lậu...).

Thai nghén không buộc người mẹ từ bỏ mọi hoạt động bình thường. Họ vẫn có thể đi làm, tập thể dục buổi sáng, chơi các môn thể thao nhẹ. Nhưng nếu bị dọa sẩy thai hay có tiền căn sẩy thai liên tiếp, nên nghỉ ngơi tuyệt đối và có sự tham vấn của bác sĩ chuyên khoa.

Trong ba tháng đầu và sau tháng thứ 8, nên tránh quan hệ vợ chồng hay đi xa, để phòng sẩy thai hay chuyển dạ sinh bất ngờ. (Theo sk&đs )

Ngoài ra bạn cần lưu ý:

Trong khi mang thai nên tiêm phòng Cúm (Flu vaccine) nếu 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ trùng hợp với mùa Cúm ( từ tháng 10 cho đến hết tháng 2 của năm kế ). Sau đó mỗi năm nên chích ngừa Cúm.

Chế độ ăn uống cho phụ nữ mang thai cần được cân bằng, nhiều chất đạm, ít chất béo, tức không ăn nhiều mở. Nên ăn thịt nạt, không mở. Nên ăn nhiều rau cải tươi, trái cây để có nhiều chất sơ (fiber), chất Calcium, chất sắt, các sinh tố nhất là sinh tố A, C. Nên uống thêm sinh tố dành cho phụ nữ có thai, trong đó có Folic acid. Nên uống Folic acid là sinh tố cần thiết cho sự thành lập tế bào của bài thai và ngừa tật dị dạng ở não và tủy sống như tật không có não bộ (anencephaly), nứt đốt sống (spina bifida). Trước khi có thai nên uống Folic acid 400mcg (400 microgram) mỗi ngày, khi có thai có thể uống 800mcg mỗi ngày cho đến hết 3 tháng đầu cuả thai kỳ. Chị nên bắt đầu uống ngay bây giờ khi chuẩn bị có thai. Trước khi uống cũng nên hỏi bác sĩ vế số lượng Folic acid vì mổi quốc gia có thể khác nhau về tiêu chuẩn số lượng.

Không được uống rượu hút thuốc. Cũng tránh đừng gần người hút thuốc, trong nhà không nên có người hút thuốc. Cũng nên kiêng cà phê. Nếu cần uống thuốc gì thì phải báo cho bác sĩ biết trước. Bạn có thể tiêm tại các bệnh viện bà mẹ trẻ em hay phụ sản hay bệnh viện lớn tại nơi bạn sinh sống.

Trên đây là những giải đáp căn bản cần thiết cho các câu hỏi của bạn nhưng bạn cũng nên đến khám bác sĩ gia đình và bác sĩ sản khoa để được khám và tư vấn chi tiết cụ thể vì sự sinh sản của phụ nữ rất quan trọng, cần phải được theo dỏi, tư vấn ngay từ đầu cho đến sau khi sinh.

Tác giả
#7939
22/11/2011 04:50 PM

Tiêm chủng cho người mẹ khi thai nghén

Ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ em đã cần tiêm chủng vacxin phòng bệnh và lịch tiêm chủng được hoàn tất trước khi trẻ trưởng thành. Nếu một người phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ đã được tiêm chủng đủ loại vacxin phòng bệnh thì khi có thai họ không cần phải tiêm chủng phòng bệnh nữa. Tuy nhiên, có những người đó thì vẫn cần phảI tiêm chủng một số loạI vacxin nào đó để phòng ngừa các tai biến nghiêm trọng cho cả mẹ và con.

Ví dụ, với các bà mẹ Việt Nam hiện nay khi có thai thì hầu hết trong số họ chưa có ai đã tiêm đủ liều vacxin phòng uốn ván để có thể có miễn dịch suốt đời (5 lần tiêm trong 3 năm với khoảng cách từ một tháng đến sáu tháng rồi một năm), vì thế để phòng bệnh uốn ván cho mẹ hai mũi vacxin phòng uốn ván trong khi có thai. Mũi thứ hai tiêm sau mũi thứ nhất ít nhất 4 tuần (một tháng) và mũi thứ hai tiêm sau mũi thứ nhất ít nhất 4 tuần (một tháng) và mũi thứ hai phải tiêm trước ngày đẻ ít nhất một tháng thì mới bảo đảm kết quả phòng tránh được bệnh.

Sở dĩ người ta ít nhiều e ngại không muốn tiêm chủng vacxin cho người có thai vì hai lý do:

+ Nhiều vacxin được bào chế từ vi sinh vật còn sống chỉ giảm độc lực (để không gây bệnh cho người được tiêm) sẽ có thể trở thành nguy cơ đối với thai nhi.

+ Sau khi tiêm chủng, phản ứng phụ của một số loại vaxin quá mạnh có thể làm cho mẹ bị sốt cao và từ đó ảnh hưởng xấu cho thai.
Cho đến nay, khoa học đã xếp các vacxin đối với người có thai thành ba nhóm:

- Nhóm 1: bao gồm những vacxin hoàn toàn vô hại đối với thai, ngược lại còn tác dụng bảo vệ thai sau khi đẻ ra trong vài tháng đầu tiên nhờ chất kháng thể của mẹ có được sau khi tiêm chủng đã chuyển sang con qua hàng rào rau thai. Đó là các vacxin phòng uốn ván, vacxin chống viêm gan virút B, vacxin phòng bại liệt bào chế từ những virut đã bất hoạt, vacxin phòng cúm .

- Nhóm 2: là những vacxin có thể tiêm chủng trong một số hoàn cảnh như vacxin phòng bệnh tả (khi có dịch ở khu vực người mẹ sống), vacxin phòng bệnh dại (khi bà mẹ bị chó dại cắn hoặc chó nghi ngờ bị dại cắn), vacxin chống bệnh sốt vàng.

- Nhóm 3: là các vacxin không được dùng cho các bà mẹ đang có thai, bao gồm vacxin phòng bạI liệt uống (chế bằng vi rút giảm độc lực) của Sabin, vacxin chống bệnh ho gà, bạch hầu, thương hàn, sởi, quai bị và lao
Tác giả
#7940
22/11/2011 04:51 PM

Không được tiêm phòng rubella khi đã mang thai

Nhiều phụ nữ có thai muốn phòng ngừa bệnh rubella bẩm sinh cho con bằng cách tiêm phòng. Tuy nhiên, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Phạm Ngọc Đính khuyến cáo, điều này tuyệt đối không nên vì có thể gây nguy hiểm.

Tiến sĩ Phạm Ngọc Đính khuyến cáo, nếu muốn phòng bệnh rubella cho thai nhi, người mẹ phải tiêm văcxin trước khi có thai ít nhất 1 tháng, tốt nhất là trước 3-4 tháng. Khi đã có thai thì tuyệt đối không được tiêm văcxin này vì nó chính là virus sống giảm độc lực, thường sản xuất dưới dạng tam liên cùng với văcxin phòng sởi và quai bị.

Khi đã có thai, cách phòng rubella tốt nhất là hạn chế tiếp xúc với đám đông, nhất là khi đang có dịch; mang khẩu trang khi ra ngoài. Vệ sinh răng miệng, đường hô hấp thường xuyên bằng các dung dịch súc họng. Thai phụ cũng phải theo dõi và cảnh giác nếu có triệu chứng sốt nhiễm trùng phát ban.

Tiến sĩ Đính cũng giải đáp một số thắc mắc thường gặp về bệnh rubella:

Hỏi: Rubella thường gặp ở tuổi nào?

Trả lời: Mọi độ tuổi đều có thể mắc rubella. Bệnh hay gặp nhất ở trẻ em. Tuy nhiên, gần đây, bệnh có xu hướng tăng ở người lớn.


Hỏi: Thời gian nào bệnh dễ xuất hiện nhất?

Trả lời: Trong số hơn 10.000 ca bệnh trong năm ngoái, có đến gần 60% xảy ra trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 7. Ở miền Nam, bệnh xảy ra quanh năm. Ở miền Bắc, rubella phát triển mạnh vào mùa đông xuân, nhưng trong năm nay bệnh lại tăng vào cuối xuân đầu hè. Cụ thể, 3 tháng gần đây số ca mắc được phát hiện tăng liên tiếp, riêng trong tháng tư là trên 1.000 ca.


Hỏi: Rubella là bệnh lành tính hay ác tính?

Trả lời: Cả hai. Nó lành tính đối với các bệnh nhân trẻ em và người lớn. Nếu được chăm sóc tốt, bệnh sẽ khỏi mà không gây biến chứng gì. Tỷ lệ biến chứng của rubella thấp hơn nhiều so với sởi (1% so với 10%). Biến chứng có thể gặp là xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm não màng não, viêm thận, tinh hoàn, khớp.

Nhưng đối với phụ nữ có thai, rubella lại là một bệnh cực kỳ ác tính vì nó rất dễ gây thai chết lưu, sẩy thai hoặc hội chứng rubella bẩm sinh cho trẻ (tỷ lệ 85% nếu thai phụ nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu). Những trẻ này thường bị chậm phát triển tâm thần và thể lực, dị tật bẩm sinh nở tim và mặt, mù, điếc, có vấn đề ở gan, lách, tủy xương.

Hỏi: Người đã khỏi bệnh có thể làm lây virus rubella?

Trả lời: Virus gây bệnh rubella có thể tồn tại kéo dài ở bệnh nhân. Trên 80% trẻ mắc hội chứng rubella bẩm sinh có thể thải virus qua dịch tiết hô hấp và nước tiểu trong nhiều tháng sau đẻ.

Rubella nằm trong nhóm bệnh có chỉ số lây truyền cao nhất. Hơn 80% số người người chưa được tiêm phòng có thể mắc rubella nếu tiếp xúc với người bệnh. Chính vì vậy, rubella dễ phát thành dịch ở các tập thể lớn. 65% số vụ dịch được thống kê trong năm 2005 xảy ra ở các tập thể học sinh hoặc công nhân khu chế xuất.


Hỏi: Các dấu hiệu nhận biết rubella?

Trả lời: Cần nghĩ đến rubella khi có 4 biểu hiện: sốt; có hồng ban dát sần (ban kết thành các mảng); sưng hạch vùng cổ, sau tai và dưới chẩm; đau cơ khớp.
Chuyển đến:
Chia sẻ qua PNN Connect
Bình luận
Ảnh
Video
Mã nhúng
Bình luận của bạn phải gõ bằng tiếng Việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nội dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Bình luận có nội dung xấu sẽ bị xóa bỏ.

Thống kê
Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 565733
Diễn Đàn hiện có 75685 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký mitomchuacay2566