Mang thai nên ăn gì và không nên ăn gì - Cẩm nang Ebook 1001 điều cần biết về chế độ dinh dưỡng khi mang thai dành cho các mẹ - Thai kỳ - Dưỡng thai - Làm mẹ - diendanphunu.vn | Diễn đàn phụ nữ & Thế giới Phụ nữ Online lớn nhất Việt Nam
Tìm kiếm:  
 
 
 
24/11/2011 05:04:30 PM
Mang thai nên ăn gì và không nên ăn gì - Cẩm nang Ebook 1001 điều cần biết về chế độ dinh dưỡng khi mang thai dành cho các mẹ
Bà bầu không nên ăn gì?

1. Táo mèo (tên khác là sơn tra)

Sơn tra giá trị dinh dưỡng cao, lại có công hiệu tiêu hóa thức ăn và khai vị. Nó vừa chua vừa ngọt, rất “vừa miệng” đối với bà bầu. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai không nên ăn nhiều loại quả này. Có tài liệu đã chứng tỏ, sơn tra làm hưng phấn tử cung, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, gây sẩy thai và sinh non.

2. Lạc
Ăn lạc trong quá trình mang thai làm sẽ làm nguy cơ mắc bệnh dị ứng của đứa trẻ sau này cao gấp 4 lần. Ngoài ra, việc sử dụng loại thực phẩm này khi cho con bú cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh cho đứa trẻ. Mặc dù, lạc là nguồn cung cấp axit folic, chất không thể thiếu cho việc phát triển nơ ron thần kinh ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, ta vẫn có thể thay thế loại thực phẩm này bằng đậu Hà Lan, loại thực phẩm này có chứa axit folic nhiều hơn và ít chất béo hơn.

3. Long nhãn
Sở dĩ như vậy là do phụ nữ khi có thai, phần lớn xuất hiện âm hỏa hư, có triệu chứng nóng trong và thường có các hiện tượng như táo bón, tiểu tiện đỏ xẻn, rêu lưỡi khô và vàng, miệng đắng, họng rát, cho nên để từ âm thanh nhiệt, lương huyết an thai, nếu lúc này ăn long nhãn, chẳng những không có tác dụng bồi bổ, ngược lại còn làm tăng nóng trong, động huyết động thai, ra huyết đau bụng, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí, dẫn tới sảy thai, đặc biệt là phụ nữ có thai thời kỳ đầu đến 7, 8 tháng, càng phải kiêng ăn long nhãn.
Trong dân gian, có những phụ nữ có thai, trước khi sinh nở uống nước long nhãn, đó chủ yếu là những phụ nữ mang thai có thể chất yếu. Vì khi sinh nở phải tiêu hao thể lực khá lớn. Phụ nữ mang thai có thể lực yếu, khi sắp "ở cữ" thường dễ xuất hiện tay chân mềm nhũn bất lực, chóng mặt hoa mắt, vã mồ hôi. Cho họ uống một bát nước long nhãn có khí nóng bốc lên, vừa thơm vừa ngon, sẽ rất có lợi cho việc tăng cường thể lực, ổn định tinh thần, giúp cho việc sinh nở tốt hơn. Đương nhiên, những phụ nữ mang thai có thể lực tốt thì không nhất thiết phải uống một bát nước long nhãn.
Thế nhưng, sản phụ sau khi sinh con mà ăn long nhãn hoặc uống nước long nhãn thì lại rất tốt. Sản phụ sau khi sinh, nếu có xuất hiện các triệu chứng váng đầu, chóng mặt hoa mắt, vã mồ hôi, mạch nhỏ lưỡi nhạt, đó là hiện tượng huyết hư khí thoát, có thể ăn cháo nóng nấu với long nhãn, nhân sen, hồng táo và gạo nếp, sẽ có tác dụng ích khí bổ huyết rất tốt.
Nếu sản phụ có hiện tượng phù nhẹ, uống nước long nhãn còn có tác dụng điều trị tích cực - cách ăn phải kết hợp với sâm style rồi hấp lên ăn. Cũng có thể hầm gà với một chút long nhãn... Tất cả đều có lợi cho việc điều dưỡng đối với người sức yếu.

4. Đậu tương, đậu nành
Một nghiên cứu mới trên động vật của Viện Hopkins đã làm dấy lên câu hỏi liệu ăn đậu tương khi mang thai có gây ra sự bất bình thường ở cơ quan sinh sản cũng như thiểu năng tình dục ở các bé trai hay không? Tốt nhất là chúng ta tự nên tránh vì đậu tương có thể là an toàn, nhưng đối với thai nhi hoặc trẻ em, chúng ta vẫn chưa đủ thông tin về độ an toàn của nó.

5. Các loại cá họ kiếm như cá ngừ, cá thu đại dương, cá kiếm, cá mập, cá cờ...
Vì chúng chứa hàm lượng thủy ngân cao. Một lượng lớn kim loại này có thể huỷ hoại hệ thần kinh của con người, đặc biệt ở những bào thai đang phát triển. Nhưng không phải loại cá nào cũng chứa thủy ngân. Có những loại hải sản bạn có thể ăn thường xuyên như: tôm, cá hồi,…Bạn có thể ăn kết hợp với các loại tôm cá nước ngọt.

6. Quẩy
Khi làm quẩy, người ta phải đưa vào một lượng nhất định phèn chua, mà phèn chua chứa nhôm - một chất vô cơ. Khi rán quẩy, cứ 500 g bột mì phải dùng 15 g phèn chua. Phụ nữ mang thai cứ mỗi ngày ăn 2 chiếc quẩy sẽ đưa vào cơ thể 3 g phèn chua. Nếu ăn nhiều, lượng nhôm tích lũy sẽ lớn, làm cho não thai kém phát triển, tăng nguy cơ bệnh đần độn.

7. Gan động vật
Những phụ nữ có thai, nói chung chỉ được ăn lương vitamin A có trong thực phẩm trong khoảng 8.000 đến 10.000 đơn vị. Hàm lượng vitamin A có trong gan của con lợn có thể gấp 3-4 lần lượng cần thiết này. Ngoài ra, qua thí nghiệm trên con bò, người ta thấy thức ăn được đổi chất và chuyển hoá qua gan của nó, vì thế mà trong gan có lắng đọng lượng chất độc hại rất nhiều, các chất độc hại đó có hại vô cùng lớn đối với những phụ nữ có thai.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho rằng Vitamin A có tác dụng gây dị dạng thai nhi rất mạn, cho nên người mẹ mang thai nếu dùng quá lượng vitamin A cần thiết sẽ làm cho thai nhi bị dị dạng. Ở Anh, ở Mỹ và một số nước khác cũng đã công bố các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của vitamin A đối với người mang thai, có những công trình nghiên cứu có giá trị học thuật cao đề xuất những ý kiến là phụ nữ có thai không nên ăn gan động vật.

8.Tuyệt đối không được ăn các loại thức ăn chưa nấu chín kỹ hoặc các đồ nem, chạo, gỏi cá…Thậm chí, kiêng ăn các loại rau, củ, quả nấu chưa chín nhừ.

9. Các đồ uống có chất caffeine như nước trà đặc, nước cà phê và nước cocacola.

6 loại củ quả không tốt cho bà bầu

Nếu đang mang thai, bạn nên hạn chế ăn táo mèo, đu đủ xanh, lạc và một số loại củ quả khác vì chúng có thể gây bất lợi cho thai kỳ.

Quả táo mèo: Theo nhiều nghiên cứu, quả táo mèo làm hưng phấn tử cung, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, gây sẩy thai và sinh non.

Quả nhãn: Theo Đông y, quả nhãn tính ấm, rất dễ trợ hỏa, bởi vậy sẽ có hại cho thai phụ, gây tăng nhiệt cho thai, dễ khiến khí huyết không điều hòa, làm cho vị khí ngược lên, dẫn đến nôn mửa. Việc ăn quả nhãn hoặc long nhãn trong một thời gian dài sẽ gây âm hư, xuất hiện hiện tượng nhiệt, đau bụng, xuất huyết, dấu hiệu của sẩy thai, sinh non.

Lạc: Việc ăn lạc trong thời kỳ thai nghén làm tăng các loại bệnh dị ứng, đặc biệt là dị ứng bào thai, tăng nguy cơ mắc bệnh dị ứng cho trẻ nhỏ sau này.

Quả đào: Quả đào tính nóng nên nếu ăn quá nhiều, bà bầu có thể bị nhiệt, xuất huyết. Lông ở vỏ quả đào rất dễ gây ngứa, rát cổ họng.

Đu đủ xanh: Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy đu đủ xanh có thể gây nên sự co thắt tử cung, hậu quả là dẫn đến sẩy thai.

Gừng, ớt: Gừng, ớt gây nóng trong nên dễ dẫn đến táo bón. Hoạt chất gingerol trong gừng làm mỏng mạch máu và có thể góp phần gây ra hiện tượng máu đóng cục. Phụ nữ trong thời kỳ nghén có thể dùng gừng để chống các triệu chứng khó chịu nhưng không nên dùng nhiều.

Tôi nên tránh những thức ăn gì khi mang thai?

Ăn uống lành mạnh khi mang thai có nghĩa là bạn phải biết nên ăn gì cũng như biết không nên ăn gì. Một số thức ăn có thể có hại cho bé cũng như khiến bạn mắc bệnh, cho nên bạn cần coi an toàn thực phẩm là ưu tiên hàng đầu. Giờ đây khi đã mang bầu, bạn thực sự nên tránh các thức ăn dưới đây:


•  Trứng sống hay trứng lòng đào, hay các thức ăn được làm từ loại trứng này như kem tươi tự làm, kem lạnh và sốt mayonnaise, (đều là những thứ được làm với trứng sống). Trứng phải được nấu chín kỹ.


•  Thịt và cá chưa nấu chín: không được để còn chút màu hồng nào trên đó (cho dù bạn vẫn thường thích ăn như vậy!).


•  Thịt hoặc cá sống như sushi hay bò bít-tết tái, cá hồi hoặc hàu hun khói


•  Sữa, phô-mai hay sữa chua không tiệt trùng


•  Một số loại gỏi (rau trộn) cũng có thể chứa khá nhiều vi khuẩn


•  Phô-mai mềm như phô-mai Pháp, phô-mai Ý, hay phô-mai gân xanh (tuy nhiên phô-mai dày hay phô-mai đã gạn kem thông thường thì không sao, miễn là đã được diệt khuẩn. Bạn hãy kiểm tra nhãn mác để biết chắc chắn)


•  Pa-tê hoặc gan: đây là loại thực phẩm chứa rất nhiều vitamin A có thể gây hại cho bé của bạn


•  Một số thức ăn chế biến sẵn như xà lách khoai tây hay xà lách trộn đôi khi có thể chứa nhiều vi khuẩn


•  Hãy đảm bảo các thức ăn chế biến sẵn phải được hâm nóng kỹ trước khi ăn


•  Cẩn thận với món thịt nướng vì thịt nướng thường được nướng trước một thời gian trước khi ăn


•  Cá kiếm và cá ngừ: Các loại cá này có thể chứa hàm lượng thủy ngân tự nhiên ở mức nguy hại, ảnh hưởng đến hệ thần kinh đang phát triển của bé. Vì vậy bạn không nên ăn không cá ngừ đóng hộp nhiều hơn 4 hộp loại vừa (140g/hộp) hoặc 2 lát cá tươi (không quá 170g/lát chưa nấu) trong một tuần.


•  Đậu phộng (lạc): Phụ nữ mang thai và cho con bú được khuyến cáo nên tránh ăn đậu phộng, nhất là nếu trong gia đình có tiền sử bị các bệnh dị ứng như hen, chàm (eczema).


• Đồ uống có cồn: Uống quá nhiều rượu bia sẽ gây ra nhiều vấn đề cho bào thai, ngay cả khi uống một lượng rượu bia vừa phải cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của bé.

Các bà mẹ mang thai nên ăn gì, uống gì?
Sinh lý cơ thể của phụ nữ trong thời kỳ mang thai có một số thay đổi đặc biệt. Sự thay đổi đó, đòi hỏi được bù đắp bằng ăn uống cho người mẹ. Do vậy, phụ nữ mang thai phải đặc biệt chú ý việc ăn uống, bởi nó không chỉ liên quan đến sức khỏe của người mẹ mà còn rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi...
Sau đây là một số món ăn thông dụng theo Đông y của lương y Trần Khiết (giảng viên khoa Y học cổ truyền Trường Đại học Y-Dược TP.HCM):

- Gan gà đem chưng với rượu, hoặc thịt gà mái đen nấu với gạo tẻ, ăn sẽ có tác dụng an thai.

- Lòng đỏ trứng gà luộc với rượu ăn có tác dụng an thai và ngừa được một số bệnh khác.

- Gạo nếp làm men rượu: Thức ăn chữa được tình trạng động thai.

- Cá chép nấu cháo: Món ăn chữa được chứng phù và an thai.

- Cháo gạo tẻ: Đem lại dinh dưỡng tốt và an thai.

- Giá đậu đỏ: Bột giá đậu đỏ uống với ít rượu ấm trị được lậu thai (thai mấy tháng vẫn có lúc ra máu, do huyết quá nóng hoặc gần chồng làm tổn hại thai).

Tất cả những món trên, phụ nữ mang thai có thể dùng làm thức ăn mỗi ngày rất tốt. Ngoài ra, phụ nữ mang thai không nên ăn thức ăn có độc, thức ăn không đảm bảo vệ sinh, thì sinh con mới thông minh. Thời hậu Hán, trong Kim quỹ yếu lược của Trương Cơ có ghi một số điều cấm kỵ trong ăn uống đối với phụ nữ mang thai. Chẳng hạn, gừng, thịt thỏ, thịt sơn dương, mỡ nai, mỡ hươu đều nên kiêng cữ.

Ngoài ra, trong sách xưa Đạt sanh biên còn đề cập rằng: Phụ nữ có thai không nên ăn chất béo nồng, kích thích mạnh, thức ăn nước uống quá đậm đặc, chất cay nóng, tránh ăn quá béo, quá ngọt, hay quá mặn và phải biết sống thanh thản; sự vui buồn, lo âu sợ sệt quá mức sẽ tổn hại đến nội tạng của thai phụ. Ngoài việc ăn uống điều độ, trong các liệu pháp phòng bệnh ở phụ nữ mang thai còn khuyên nên giảm bớt tình dục trong thời kỳ mang thai.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?


Chế độ ăn uống trong thai kì quyết định phần lớn sức khỏe và sự phát triển trí não của bé sau này. Biết cách chọn lựa thực phẩm và nên ăn bao nhiêu, vào thời gian nào là sự lựa chọn thông minh nhất.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng phụ nữ mang thai ăn nhiều những loại thực phẩm dưới đây con cái sẽ thông minh hơn:

Kê, ngô

Hàm lượng dinh dưỡng trong hạt kê và ngô không kém hạt gạo là mấy. Song song với các bữa cơm, ăn thêm kê và ngô sẽ rất tốt cho não, giúp não bé phát triển khỏe mạnh.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn? Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?

Rong biển, hải sản

Tảo bẹ, rong biển, hải sản rất giàu canxi, iốt, phốt pho, sắt, muối vô cơ và các nguyên tố khác kích thích sự sinh trưởng và phát triển đại não của thai nhi; chống suy nhược thần kinh và tốt cho sức khỏe bà mẹ.

Vừng đen

Hạt vừng đen đặc biệt rất giàu canxi, phốt pho, sắt, và 19,7% protein chất lượng cao với gần 10 loại axit amin quan trọng, mà các axit amin là thành phần chính tạo thành các tế bào não.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn? Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?

Hạt óc chó

Hạt óc chó giàu chất dinh dưỡng, trong đó chất béo chiếm 63% – 65%, protein chiếm 15% – 20%, đường chiếm khoảng 10%. Với 500 gram quả óc chó tương đương với 2,5 kg trứng gà, hay 4,5kg sữa tươi.

Đặc biệt canxi, phốt pho, sắt và vitamin B1, vitamin B2 cũng khá cao, rất tốt cho các tế bào thần kinh lớn.

Táo tàu

Trong 100g táo tàu chứa 540mg vitamin C, ăn thêm táo tàu sẽ tăng cường sức đề kháng cho thai nhi.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn? Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?

Mộc nhĩ

Mộc nhĩ rất giàu chất sắt và các loại dinh dưỡng khác, ăn mộc nhĩ giúp máu lưu thông tốt từ mẹ sang bào thai, giúp bé phát triển khỏe mạnh.

Táo

Táo không chỉ giàu kẽm và các nguyên tố vi lượng, mà còn giàu chất béo, carbohydrate, các vitamin và chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là chất xơ phong phú có lợi cho các cạnh của vỏ não bào thai phát triển, tốt cho bộ nhớ của bé sau này.

Phụ nữ mang thai nên ăn l-2 quả táo mỗi ngày để bổ sung kẽm. Ngoài táo, hạt hướng dương, nấm, hành tây, chuối, bắp cải và các loại hạt cũng giàu kẽm.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn? Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?

Lòng đỏ trứng, các loại thịt

Đây là những thực phẩm chứa nhiều cholesteron nên nhiều bà mẹ e dè ăn nhiều vì sợ béo. Tuy nhiên ăn uống điều độ và hợp lý những thực phẩm này giúp đại não thai nhi phát triển và giúp bé có bộ nhớ tốt hơn sau này, đồng thời tránh mắc bệnh đãng trí khi về già.

Ăn gì khi mang thai để con thông minh hơn?

Cá giàu các axit amin, lecithin, kali, canxi, kẽm và các nguyên tố khác, đây là những vật liệu cần thiết cho sự phát triển bào thai, đặc biệt là hệ thần kinh. Nghiên cứu cho thấy, phụ nữ mang thai ăn nhiều cá thì bào thai phát triển hơn, đặc biệt hệ thần kinh trong não bộ, sinh ra em bé đặc biệt thông minh. Lựa chọn tốt nhất là cá da trơn, cá hồi, cá biển…

Phụ nữ mang thai nên uống sữa gì?

Đã từ lâu sữa đã được công nhận là một thực phẩm hoàn hảo nhất trong thiên nhiên, vì trong sữa gần như có đủ tất cả các chất dinh dưỡng với một tỷ lệ cân đối và tuyệt vời nhất cho sự tiêu hóa và hấp thu các chất, là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển thể chất của một cơ thể. Vì vậy người ta khuyên các bà mẹ mang thai và đang cho con bú ngoài việc ăn đủ chất và lượng cần thiết, mỗi ngày nên uống thêm sữa.

Sữa là một loại thực phẩm hoàn hảo nhất về mặt dinh dưỡng

Bạn đang mang bầu nhưng đã biết phụ nữ mang thai nên uống sữa gì chưa? Với hơn hai trăm loại thực phẩm trong thiên nhiên được phân thành 4 nhóm dinh dưỡng (bột đường, đạm, béo, rau củ và trái cây) thì sữa được xếp chen vào giữa cả 4 nhóm, vì trong thành phần của sữa có đầy đủ cả 4 nhóm thực phẩm:

- Chất đạm (protein) trong sữa là một loại đạm có giá trị sinh học cao nhất trong tất cả các loại đạm (tương đương với đạm của trứng). Đạm sữa là một loại đạm tốt mà cơ thể có khả năng sử dụng gần như hoàn toàn sau khi hấp thu vào cơ thể, đặc biệt rất giàu các acid amin cần thiết cho sự hoạt động và phát triển như lysine...

- Lactose là một loại chất đường của sữa, với sữa bột đôi khi nhà sản xuất còn thêm đường glucose... cung cấp năng lượng cho sự hoạt động của cơ thể.

- Các loại sữa tươi, sữa nguyên kem (không tách bơ) giàu chất béo động vật (lipid) là nguồn cung cấp năng lượng chính của sự tăng trưởng và phát triển hoàn chỉnh hệ thống thần kinh của trẻ nhỏ.

Phụ nữ mang thai nên uống sữa gì?, Bà bầu, Phu nu mang thai nen uong sua gi, phu nu mang thai nen uong gi, phu nu mang thai nen uong nuoc gi, phu nu mang thai, ba bau nen uong gi, ba bau uong sua khi nao, ba bau uong loai sua nao, ba bau uong sua gi
Đạm sữa là một loại đạm tốt mà cơ thể có khả năng sử dụng gần như hoàn toàn sau khi hấp thu vào cơ thể

- Sữa có gần như đủ các loại sinh tố cần thiết: sinh tố A, C, D, E, acid folic... đặc biệt nhiều các sinh tố nhóm B là vi chất dinh dưỡng thường thiếu trong khẩu phần ăn của người Việt Nam. Sữa là một trong số ít các loại thực phẩm giàu canxi trong thiên nhiên. Sữa đặc biệt giàu canxi và phospho là những chất khoáng không thể thiếu trong xây dựng và cấu trúc nên hệ thống xương, răng... với tỷ lệ canxi/phospho hợp lý nhất cho sự hấp thu vào cơ thể.

- Một lít sữa tươi cung cấp trung bình khoảng 670 kilocalo năng lượng cho hoạt động cơ thể (tương đương khoảng 3,5 chén cơm trắng lớn), 1.000mg canxi và các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của một cơ thể.

Tại sao phụ nữ mang thai và trẻ em cần uống sữa?

Nhu cầu canxi mỗi ngày cho một người theo dinh dưỡng khuyến cáo cho người lớn là 500mg canxi/người/ngày, vì nếu chỉ ăn các loại thực phẩm khác thì khó mà đạt được số lượng canxi cần thiết nêu trên. Nhất là phụ nữ có thai và cho con bú nhu cầu canxi tăng rất cao (1.000 – 1.200mg canxi/ngày) nếu cần thiết phải uống sữa mỗi ngày. Sữa giúp cho bộ xương trẻ phát triển về chiều dài, chiều rộng, tăng bề dày của vỏ xương và làm cho thân xương thêm cứng chắc. Đến sau 25 – 30 tuổi, quá trình tạo xương trở nên kém hơn quá trình hủy xương, sự mất xương từ từ bắt đầu xảy ra. Dùng sữa hàng ngày sẽ làm cho quá trình loãng xương chậm lại, hạn chế “mọc gai cột sống”, “gãy cổ xương đùi” xảy ra đặc biệt sau tuổi mãn kinh.

Một số loại sữa thông dụng cho phụ nữ mang thai và đang nuôi con bú:

Nếu bạn chưa biết, phụ nữ mang thai nên uống sữa gì cho tốt thì đây là lời khuyên dành cho bạn:

- Sữa tươi: Là loại sữa được lấy trực tiếp từ bò, dê... sau khi xử lý (đa số là pha loãng và tiệt trùng bằng nấu sôi, tia cực tím...) được đóng gói vào hộp, bịch, chai... Sữa tươi thuộc nhóm sữa béo, nên dùng cho trẻ trên một tuổi.

- Sữa bột (nguyên kem, sữa béo): là loại sữa dạng bột được đóng trong hộp sắt hay bao thiếc, khi uống thì pha sữa bột với nước ấm. Cứ 8 lít sữa tươi sẽ làm được 1kg sữa bột, một ký sữa bột này khi uống sẽ pha với nước ấm thành 8 lít sữa nên còn gọi là sữa hoàn tươi hay còn gọi là hoàn nguyên. Trong sữa bột thường được bổ sung thêm các chất dinh dưỡng như chất béo, đạm, đường, vitamin, khoáng chất, sắt, canxi, taurin, DHA, RA, probiotic, chất xơ... với số lượng và thành phần thay đổi tùy theo từng nhu cầu khác nhau.

- Sữa không béo (sữa gầy, sữa tách bơ): là loại sữa nguyên kem được lấy đi một phần hay toàn bộ chất béo để làm giảm năng lượng nhưng vẫn còn đầy đủ các thành phần dinh dưỡng khác, thường được bổ sung thêm canxi và ít cholesterol.

- Sữa đậu nành nước dạng công nghiệp đóng trong hộp giấy: Nếu được bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết thì sẽ giá trị dinh dưỡng tương đối, không có đạm và béo động vật.

- Sữa cao năng lượng: Là loại sữa được bổ sung thêm nhiều đường, đạm và béo để tăng đậm độ năng lượng (1ml sữa cung cấp 1kg calo).

- Sữa chua dạng uống hay dạng đặc: Là sữa được lên men vi sinh có lợi cho tiêu hóa và hấp thu, giảm nguy cơ tiêu chảy do thiếu men lactase.

Cách sử dụng và bảo quản sữa

Khi mua các loại sữa đóng hộp, đóng gói... cần chú ý đến thời gian sản xuất hay hạn sử dụng, hộp sữa nguyên vẹn không bị méo mó hoặc vết lõm, thủng lỗ, được bày bán ở nơi mát mẻ không bị phơi trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời. Khi mở hộp ra hoặc sau khi pha sữa, nếu thấy sữa bị đóng cục, có màu hay mùi khác lạ thì không nên dùng.

Tùy theo từng loại sữa mà chúng ta có cách sử dụng và bảo quản khác nhau:

- Sữa tươi: Nếu chỉ được nấu sôi tiệt trùng theo phương pháp thủ công và chứa trong chai với nút đậy sơ sài thì bạn hãy cố gắng dùng hết trong vòng 24 giờ, có thể uống nóng, nguội hay để tủ lạnh tùy ý. Tuy nhiên, cần lưu ý đến độ an toàn và vệ sinh của loại sữa này nếu thời gian nấu sôi không đủ 30 phút, vệ sinh chai đựng không sạch và không để lâu hơn 24 giờ sau khi nấu.

Các loại sữa tươi chứa trong hộp giấy được tiệt trùng theo phương pháp hiện đại thì không cần trữ lạnh trước khi mở hộp, nhưng sau khi mở hộp thì phải bảo quản trong tủ lạnh và dùng hết trong vòng 48 giờ.

- Các loại sữa bột: Nên luộc sôi bình hay ly pha trước khi pha sữa. Tùy theo hướng dẫn của nhà sản xuất từng loại sữa mà chúng ta nên tuân theo như vậy. Đa số sữa bột hiện nay khuyên pha sữa với nước ấm (một nửa là nước đang sôi, một nửa là nước sôi để nguội) để giữ lượng vitamin bổ sung và đong lượng sữa bột bỏ vào theo hướng dẫn ghi trên hộp sữa. Không nên pha đặc hơn hay loãng hơn đều không tốt (trừ một số trường hợp đặc biệt). Nên pha sữa lần nào uống hết lần đó, có thể trừ sữa đã pha trong tủ lạnh nhưng không để bình sữa lâu hơn 2 giờ sau khi pha. Hộp sữa bột đã mở nắp nên dùng hết trong vòng 2 tuần.

- Các loại sữa chua nên trữ lạnh và dùng trong thời hạn ghi trên hộp hay hũ nhựa. Các loại yaourt làm thủ công tại gia đình thì nên dùng hết trong vòng 4 – 7 ngày sau khi làm.

- Hộp sữa đặc có đường sau khi mở nắp cần được đậy kín, bảo quản trong tủ lạnh tránh để kiến, gián vào và sử dụng hết trong vòng 5 – 7 ngày.

(Theo Sức khỏe & Đời sống)

Để an thai, nên ăn gì là tốt nhất?

Phụ nữ mang thai cần một chế độ dinh dưỡng phong phú nhưng phải hợp lý, để cân bằng các dưỡng chất cần thiết cho cả mẹ và con, nhất là không thể thiếu các món ăn giúp an thai.

Hạt hướng dương: hạthướng dương rất giàu vitamin E giúp an thai, giảm nguy cơ gây ra sảy thai.

 

Mía: mía cũng là món ăn tốt cho bà bầu. Để giúp an thai có thể dùng bài thuốc sau: Mầm mía 30g, củgai 30g, ích mẫu 20g, củ gấu 80g, sa nhân 2g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khôsắc với 400ml nước, còn 100 ml uống trong ngày, chia làm 2 lần.

 

Cháo cá chép: là mónăn chữa được chứng phù và an thai. Cá chép có thể hầm với gạo nếp , hạt đậu đỏhoặc nấu chung với hành, nghệ đều có tác dụng an thai, bổ khí huyết, ôn tỳ vị,trừ mỏi mệt, thiếu máu, lợi sữa.

 

Cách nấu cháo cá chép, gạo nếp như sau: Cá chép một con 250g, gừng một lát, gạo nếp 200 g. Cá luộc chín tẩm rượu rồi cho táo gừng vào cháo nhừ.


 

Cháo gà gạo tẻ: Dinh dưỡng tốt, an thai, bổ cho cả người già và người suy nhược cơ thể.

Người ta thường dùng nhiều nhất là thịt gà mái đen nấu với gạotẻ để giúp thai phụ an thai.

 

Trứng gà: Luộc trứnggà với rượu ăn hàng ngày sẽ giúp an thai, bồi bổ cơ thể. Trứng gà kết hợp với ngải cứu làmột bài thuốc dân gian quen dùng để an thai, tốt trong việc điều trị truỵ thai.

 

Bài thuốc trứng gà an thai được áp dụng như sau: Bà bầu mangthai tháng thứ 2 ăn mỗi tuần 2 lần canh trứng gà nấu ngải cứu, theo tỷ lệ 2 quảtrứng gà với 15g ngải cứu.

 

Mang thai ở tháng thứ ba, 2 tuần ăn món canh trứng gà ngảicứu một lần.

 

Mang thai ở tháng thứ tư, ăn một lần/tháng. Bài thuốc này sử dụng điều độ, đúng liều lượng sẽ giúp bà bầu tránh được sự suy nhược của sức khoẻ.

 

Gan gà: Chưng với rượu ăn hàng ngày cũng giúp an thai, bồi bổ khí huyết.


Ngoài tầm bổ các thực phẩm bố dưỡng, thai phụ cần tránh ăn các thực phẩm cay nóng, không ăn quá mặn, không ăn thực phẩm đã biến chất, không ăn thức ăn nhiều mỡ... Đặc biệt cần giữ tinh thần tươi vui, tránh stress để an thai và sinh con được khoẻ mạnh.

Tác giả
#127120
24/11/2011 05:08 PM

Dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng đầu

Dinh dưỡng trong 3 tháng đầu thai kì rất quan trọng bởi nó là cơ sở cho sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi các giai đoạn sau, đồng thời cũng là lúc cơ thể mẹ biến đổi mạnh mẽ để chuẩn bị cho sự ra đời của đứa con mình. Có rất nhiều thắc mắc trong giai đoạn này, đặc biệt là vấn đề ăn uống dinh dưỡng, dưới đây là những thông tin cơ bản giúp cho các bà bầu có sự chuẩn bị tốt nhất về dinh dưỡng.

Ăn uống khi mang thai 3 tháng đầu

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bữa ăn của bà mẹ cần có đủ 4 nhóm thực phẩm:

  • Nhóm chất bột gồm: gạo, mì, ngô, khoai, sắn…
  • Nhóm chất đạm gồm: thịt, cá, trứng, tôm cua, đậu đỗ…
  • Nhóm chất béo gồm: dầu, mỡ, vừng, lạc…
  • Nhóm vitamin chất khoáng và chất xơ gồm: rau xanh và quả chín.

Trong 3 tháng đầu, bạn chưa cần phải ăn uống tẩm bố quá nhiều mà chỉ cần đủ mức dinh dưỡng thông thường cộng với nâng cao các vi chất cho cơ thể:

  • Bổ sung cân đối chất bột, chất đạm và chất béo:
    • Đối với những người khỏe mạnh và đủ chất, có thể tăng khẩu phần ăn so với thông thường, nhưng chưa cần tăng quá nhiều.
    • Đối với những người gầy yếu, cần phải cố gắng ăn nhiều các chất bổ dưỡng, giàu đạm và protein để bù lại sự thiếu hụt của cơ thể.
  • Ăn những thực phẩm giàu chất xơ.
  • Uống nhiều nước, lượng nước cần thiết tối thiểu hàng ngày khoảng 1,5 lít.
  • Chia nhỏ khẩu phần ăn trong ngày thành nhiều bữa (6-8 bữa) để tránh hiện tượng nôn và buồn nôn do ốm nghén.
  • Bổ sung nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể thông qua thức ăn hoặc thuốc bổ:
    • Canxi: bà bầu cần thêm 1000mg Canxi mỗi ngày, cần chọn những thực phẩm giàu canxi như sữa, trứng, váng sữa, sữa chua…
    • Axit folic: có vai trò rất quan trọng đối với hệ thần kinh của trẻ, có nhiều trong gan động vật, rau xanh thẫm, hoa lơ, đậu quả…
    • Sắt: tham gia quá trình tạo máu, vận chuyển oxy. Sắt có nhiều trong gan lợn gà, lòng đỏ trứng gà, thịt bò (hoặc các loại thịt đỏ), các loại rau củ quả như đậu đỗ…
    • Các vitamin: Vitamin A, C, D, K… đều rất cần thiết cho thai phụ và thai nhi. Cần bổ sung thông qua các loại thực phẩm tự nhiên mỗi ngày.

Ngoài ra, thai phụ có thể sử dụng thuốc bổ, các viên đa vitamin để bổ sung các vi chất cho cơ thể. Cần sử dụng với liều lượng hợp lý và có sự hướng dẫn của bác sĩ.

Những gì nên tránh?

  • Rượu, bia, cafe, chè… chứa chất cồn, caffein đều được khuyến cáo không nên sử dụng khi mang thai 3 tháng đầu.
  • Các loại nước giải khát công nghiệp, sôđa…
  • Các loại thức ăn, đồ uống ngọt, chứa nhiều đường dễ làm tăng nguy cơ tiểu đường
  • Tránh ăn mặn khi mang thai
  • Giảm bớt các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, giấm… đặc biệt là các loại gia vị cay.
  • Không ăn thức ăn sống, thức ăn gỏi hay đã để lâu
  • Không ăn các loại thực phẩm có thủy ngân như cá mập, cá kiếm, cá ngừ…
  • Hạn chế các thực phẩm quá nhiều chất béo và cholesterol.
  • Tránh đu đủ xanh, lô hội, nhãn, nhân sâm, dưa hấu ướp lạnh… hay một số loại thức ăn được khuyến cáo ít sử dụng
  • Tránh uống nước lạnh, ăn nhiều kem khi mang thai bởi dễ gây co thắt huyết mạch
Tác giả
#127121
24/11/2011 05:17 PM

Dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng giữa

Vào 3 tháng giữa thai kỳ, những mệt mỏi và vất vả trong ăn uống sẽ qua đi bởi bạn sẽ không (hoặc ít) chịu tác động của ốm nghén, đây là giai đoạn các bà mẹ có thể “tăng tốc” để cung cấp một lượng dinh dưỡng cần thiết cho cả hai mẹ con.

Ăn uống khi mang thai 3 tháng giữa

“Mục tiêu” đặt ra cho bạn trong giai đoạn này là phải tăng từ 3-4 kg, đồng thời phải bảo đảm đủ các dưỡng chất, vi chất cần thiết. 4 nhóm thực phẩm cơ bản vẫn tiếp tục được các chuyên gia dinh dưỡng yêu cầu đó là:

  • Nhóm chất bột gồm: gạo, mì, ngô, khoai, sắn…
  • Nhóm chất đạm gồm: thịt, cá, trứng, tôm cua, đậu đỗ…
  • Nhóm chất béo gồm: dầu, mỡ, vừng, lạc…
  • Nhóm vitamin chất khoáng và chất xơ gồm: rau xanh và quả chín.

Giai đoạn này, cơ thể người mẹ cần khoảng 2550 kcal/ngày, cao hơn mức bình thường 300-350 kcal, bởi vậy các yêu cầu về dinh dưỡng cũng cao hơn:

  • Tăng khẩu phần ăn so với giai đoạn đầu và giữ tỷ lệ cân đối calo giữa đạm/béo/bột-đường là 14:31:55.
  • Cung cấp một lượng axit béo cần thiết cho sự phát triển não bộ của thai nhi
  • Không nên thiếu rau xanh, quả chín trong mỗi bữa ăn
  • Cung cấp lượng vitamin dồi dào cho cơ thể gồm: chất sắt, canxi, magiê, kẽm, vitamin B, acid folic, vitamin A, C, E, D và beta-caroten bằng việc ăn uống đa dạng
  • Cần uống đủ nước mỗi ngày theo nhu cầu
  • Cố gắng duy trì các bữa ăn đều đặn, khoảng 4 giờ ăn một bữa và tránh bỏ bữa
  • Thỉnh thoảng có thể ăn đồ ngọt (bánh kẹo, mứt…)

Việc sử dụng thuốc bổ, các viên vitamin là cần thiết, nhưng cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Ngoài ra, hãy kiểm soát tốc độ tăng cân của cơ thể sao cho hợp lý để tránh những nguy cơ do thừa/thiếu cân gây ra.

Những gì nên tránh?

  • Ăn kiêng: Đây là giai đoạn quan trọng, cần cung cấp đủ năng lượng cho mẹ và thai nhi, vì vậy tuyệt đối không được ăn kiêng.
  • Các chất kích thích, các loại nước giải khát công nghiệp tiếp tục được khuyến cáo không sử dụng
  • Lưu ý tới vấn đề tiểu đường khi các bà bầu tăng khẩu phần ăn, đây là bệnh rất thường gặp do các mẹ không kiểm soát được việc ăn uống.
  • Tránh ăn quá mặn, giảm bớt các loại gia vị cay
  • Ăn chín, uống sôi, hạn chế ăn ngoài đường, tránh các loại thực phẩm được khuyến cáo có nhiều chất bảo quản, thủy ngân…
  • Tránh đu đủ xanh, lô hội, nhãn, nhân sâm, dưa hấu ướp lạnh… hay một số loại thức ăn được khuyến cáo ít sử dụng
  • Tránh uống nước lạnh, ăn nhiều kem khi mang thai bởi dễ gây co thắt huyết mạch
Tác giả
#127122
24/11/2011 05:18 PM

Dinh dưỡng khi mang thai 3 tháng cuối

3 tháng cuối thai kỳ là giai đoạn thai nhi lớn nhanh nhất và mẹ cũng tăng cân nhiều nhất. Vì vậy dinh dưỡng trong 3 tháng cuối rất quan trọng đối với sức khỏe của mẹ và bé.

Ăn uống khi mang thai 3 tháng cuối

Giai đoạn này bà bầu có thể tăng tới 6-7kg và cũng là giai đoạn thai nhi lớn nhanh nhất. Chế độ dinh dưỡng của mẹ trong giai đoạn này cũng phải tăng tương ứng, nhưng cũng phải hết sức hợp lý để tránh các nguy cơ tiểu đường, phù nề hoặc tăng cân quá mức. 4 nhóm thực phẩm cơ bản vẫn phải được đảm bảo đầy đủ:

  • Nhóm chất bột gồm: gạo, mì, ngô, khoai, sắn…
  • Nhóm chất đạm gồm: thịt, cá, trứng, tôm cua, đậu đỗ…
  • Nhóm chất béo gồm: dầu, mỡ, vừng, lạc…
  • Nhóm vitamin chất khoáng và chất xơ gồm: rau xanh và quả chín.

Mỗi ngày, cơ thể mẹ cần khoảng 2550 kcal (giống giai đoạn 3 tháng giữa), do vậy khẩu phần ăn vẫn cần phải duy trì tốt như giai đoạn trước.

  • Khẩu phần ăn trong 2 tháng đầu trong giai đoạn này cần giữ tương tự như giai đoạn 3 tháng giữa, tuy nhiên khẩu phần đạm cần tăng hơn để bảo đảm sự phát triển của thai nhi. Có thể bổ sung đạm từ hải sản (nếu không bị dị ứng) thì rất tốt.
  • Tiếp tục cung cấp lượng axit béo cần thiết cho sự phát triển của não bộ thai nhi
  • Không nên thiếu rau xanh, quả chín trong mỗi bữa ăn
  • Cung cấp lượng vitamin dồi dào cho cơ thể gồm: chất sắt, canxi, magiê, kẽm, vitamin B, acid folic, vitamin A, C, E, D và beta-caroten bằng việc ăn uống đa dạng
  • Cần uống đủ nước mỗi ngày theo nhu cầu
  • Cố gắng duy trì các bữa ăn đều đặn, khoảng 4 giờ ăn một bữa và tránh bỏ bữa
  • Trong quá trình dinh dưỡng, cần có sự điều chỉnh ăn uống và dinh dưỡng theo sự yêu cầu của bác sĩ (đặc biệt là tháng cuối trước sinh) tránh tăng cân quá nhiều làm thai nhi quá to hoặc ăn uống thiếu chất dẫn tới thai nhi kém phát triển.
  • Bổ sung vitamin D từ thức ăn đặc biệt là trong giai đoạn mùa đông để đảm bảo đủ Canxi cho bé.

Việc sử dụng thuốc bổ, các viên vitamin là cần thiết, nhưng cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Vai trò của một số chất dinh dưỡng trong quá trình mang thai

  • Chất đạm (Protein): tăng trưởng tế bào và tạo máu có trong các thực phẩm như: thịt nạc, cá, thịt gia cầm, trứng, đậu đỗ, lạc, đậu phụ. Nhu cầu chất đạm cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai 3 tháng cuối là 70gr/ngày.
  • Chất bột đường: cung cấp năng lượng hàng ngày. Có trong bánh mì, ngũ cốc, khoai tây, hoa quả, rau, mì.
  • Canxi: làm cho răng và xương chắc khỏe, chống co cơ, chức năng thần kinh. Mỗi ngày thai phụ cần khoảng 1500mg canxi. Có trong sữa, bơ, cá ăn cả xương.
  • Chất béo (lipid): tốt cho hệ thần kinh, phụ nữ mang thai cần 70-80g/ngày. Chất béo có trong bơ, sữa, lòng đỏ trứng, dầu thực vật, thịt, cá béo (cá hồi, cá thu).
  • Chất sắt: vai trò của chất sắt trong việc phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt: Thiếu máu được coi là một yếu tố đe dọa sản khoa. Khi bị thiếu máu, người mẹ thường có nước da xanh, môi, mi mắt nhợt nhạt, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, gặp nhiều rủi ro khi đẻ; tỷ lệ đẻ non và tử vong sơ sinh cũng cao hơn. Chất sắt có nhiều trong các loại đậu đỗ, rau xanh (rau ngót, rau giền, rau khoai, rau bí), phủ tạng (tim, gan, bầu dục…), rất tốt để đề phòng thiếu máu.

Trong bữa ăn hằng ngày của người mẹ, ngoài gạo, ngô, các loại củ, rau quả tươi nên có thêm thịt, cá hoặc đậu, lạc, vừng… Trong 3 tháng cuối, mỗi ngày nên ăn thêm 1 quả trứng.

Những gì nên tránh?

  • Ăn kiêng: Đây là giai đoạn quan trọng, cần cung cấp đủ năng lượng cho mẹ và thai nhi, vì vậy tuyệt đối không được ăn kiêng.
  • Các chất kích thích, các loại nước giải khát công nghiệp tiếp tục được khuyến cáo không sử dụng
  • Lưu ý tới vấn đề tiểu đường khi các bà bầu tăng khẩu phần ăn, đây là bệnh rất thường gặp do các mẹ không kiểm soát được việc ăn uống.
  • Tránh ăn quá mặn, giảm bớt các loại gia vị cay
  • Ăn chín, uống sôi, hạn chế ăn ngoài đường, tránh các loại thực phẩm được khuyến cáo có nhiều chất bảo quản, thủy ngân…
  • Tránh đu đủ xanh, lô hội, mướp đắng, nhãn, nhân sâm, dưa hấu ướp lạnh… hay một số loại thức ăn được khuyến cáo ít sử dụng
  • Tránh uống nước lạnh, ăn nhiều kem khi mang thai bởi dễ gây co thắt huyết mạch
Chuyển đến:
Chia sẻ qua PNN Connect
Bình luận
Ảnh
Video
Mã nhúng
Bình luận của bạn phải gõ bằng tiếng Việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nội dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Bình luận có nội dung xấu sẽ bị xóa bỏ.

Thống kê
Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 566254
Diễn Đàn hiện có 75356 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký divedau19024759