Đặt tên cho con theo phong thủy tất tần tật những điều bạn thắc mắc đều có ở đây, xem ngay xem ngay - Thai kỳ - Dưỡng thai - Làm mẹ - diendanphunu.vn | Diễn đàn phụ nữ & Thế giới Phụ nữ Online lớn nhất Việt Nam
Tìm kiếm:  
Bình nhiều
 
 
 
12/03/2010 03:46:28 PM
Đặt tên cho con theo phong thủy tất tần tật những điều bạn thắc mắc đều có ở đây, xem ngay xem ngay
Em sưu tầm được bài viết này có vẻ rất hay, post lên đây để chị em chuẩn bị sinh em bé tham khảo thêm về cách đặt tên cho con theo phong thủy, đặt tên cho con theo tử vi, đặt tên cho con trai con gái sinh năm Canh Dần 2010... Nói chung là tất tần tật những vấn đề về đặt tên cho con mà chị em quan tâm

Khi xưa, sinh một đứa con, người ta cho là “Trời cho” và “Bắt được”, hoàn toàn do mệnh Trời hoặc ý Chúa, không bao giờ dám nghĩ đến việc sinh đẻ có kế hoạch, đình sản hay triệt sản. Thường thường trẻ ra đời thì nhiều, nhưng nuôi được khôn lớn lại ít, chịu tình trạng “hữu sinh vô dưỡng”. Người ta mang tâm lý sợ hãi, đặt tên xấu cho con, để quan ôn, quan dịch không chú ý đến, ma quỷ quên dòm ngó; cúng mụ rất chu đáo vì 12 vị tiên đã “nặn” ra con mình, mong mụ sẽ bảo vệ, chăm sóc hài nhi được ăn no, ngủ kỹ, mau lớn. Tên lúc sơ sinh của đứa trẻ, tục gọi là tên “mụ”. Những cái tên xấu như: Cu, Đĩ, Cún, Bòi, Tít, Bi, Bờm, Cò, Hĩm... do đó được lưu hành.

Vì trình độ văn hoá có hạn, đại bộ phận dân chúng mù chữ, lại sợ thần quyền, lo phạm huý, lo trùng tên với vai trên... nên khi xưa, các cụ đặt tên con cháu rất “dễ dãi” nếu không dám nói là “tuỳ tiện” hay ngẫu hứng. Một bà mẹ nông dân, đến tháng sinh vẫn gánh hàng ra chợ, qua cánh đồng bất ngờ “tọt” đứa con ra. Xưa mặc váy ngắn, nên bà dễ dàng tự đỡ lấy và ghé răng cắn đứt rau cho con. Đứa trẻ ấy được đặt tên là Hoàng Thị Tọt. Chữ “Thị” lại có nghĩa là “chợ”. Một trường hợp khác, ông bố lái ô tô bị gãy nhíp, về nhà tìm phụ tùng để sửa chữa thì đúng lúc vợ vừa xổ (ñeû), liền vui vẻ đặt luôn tên cho con trai mình là Sái Văn Nhíp. Chữ “Sái” có nghĩa nôm là “Trẹo”. Những thứ tên như thế không mấy khi trùng danh với thành hoàng, các vị chức sắc, hoặc cao tăng tổ khảo, cao tằng tổ tỉ nhà ai!

Một cách đặt tên khác là cứ theo thứ tự mà gọi. Nhà nào cũng yên trí là sẽ đẻ nhiều. Đứa thứ nhất gọi là Trưởng, Thủ, Nhất, Đại, Lớn, tuỳ theo hoàn cảnh mà chọn một tên cho khỏi trùng, đứa thứ hai gọi là Thứ, Nhị, Nhì, Tiếp, Kế..., đứa thứ ba là Tam, Ba, Đệ, Nối..., đứa thứ tư là Tứ, Tư, Bốn, Vuông (4 cạnh). Khi đã con đàn đông đúc rồi, thì gọi tên con là Thêm, Nếm, Mãi, Còn... Cuối cùng vẫn đẻ thì có tên ngay là Bé, út, Tí, Hon, Cửu, Thập, Mười, Dư...

Người ta lại theo năm sinh đứa trẻ mà đặt tên con. Chẳng hạn đẻ năm 2007, đứa trẻ sẽ có tên là Đinh hoặc Hợi; sinh năm 2008 sẽ có tên là Mậu hoặc Tý; sinh năm 2009 sẽ có tên là Kỷ hoặc Sửu; sinh năm 2010 sẽ có tên là Canh hoặc Dần. Hoặc đặt tên theo mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, theo tháng thì có Mạnh, Trọng, Quý.

Một phương thức đặt tên nữa là dùng hệ thống ngôn từ, lấy một chữ mở đầu làm căn cứ cho chữ tiếp theo. Thí dụ: Đứa con thứ nhất là Thuận, thì đứa thứ hai phải là Hoà, thứ ba sẽ là Nhã, đứa thứ tư chắc chắn phải là Nhặn. Hoặc con cả là Sâm, con thứ hai sẽ là Nhung, thứ ba là Quế, thứ tư là Phụ. Có người đặt tên cho 8 đứa con là Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Khi hoà bình rồi, lại sinh thêm 2 cháu nữa, bèn đặt tên cho là anh Vẻ, chị Vang.

Mấy năm trước đây, nhiều cặp vợ chồng trẻ thích đặt tên cho con thật kêu, thường gắn thêm chữ “Anh” vào sau như: Lan Anh, Quế Anh, Hồng Anh, Minh Anh... hoặc gắn thêm chữ Bích vào trước như: Bích Đào, Bích Hoa, Bích Ngọc, Bích Thuý... Họ sính tên kêu, nên gây ra nhiều chuyện nực cười, chót đã vào khai sinh ròi, thì rất khó sửa lại. Chẳng hạn Thiện Đức nghe rất hay, nhưng nói lái lại thì thành Đực Thiến, Mộng Dung thành Rụng Mông, Tuyết Lê là Vú đàn bà, Minh Thu là Mặt Rỗ (tiếng Pháp: Mille trous), Vũ Minh Năng là Nhai lại (tiếng Pháp: Ruminants), Đăng Xinh là nhẩy đầm, tiệm nhẩy (tiếng Pháp: Dancing) những tên tưởng là hay nhưng nghĩa lại rất xấu như Ngọc Dương là hòn cà của con dê đực, Khánh Ly là từ biệt niềm vui, Lệ Quyên là khóc mà tự vẫn.

Thanh niên bây giờ chỉ sinh một hoặc hai con, họ có kiến thức văn hoá, đặt tên con rất cẩn thận, không mắc những sai phạm như xưa. Họ hiểu rằng cái tên đeo đuổi với con người suốt cả một đời, ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng, tâm hồn, tình cảm, phong độ, tài năng, chí phấn đấu của con người mang cái tên ấy.

Phần lớn, họ đặt tên con theo Mạng số. Chẳng hạn sinh con năm Mậu Tý, họ biết đứa trẻ mạng Tích Lịch Hoả, thuộc hành Thổ, khắc Thiên Hà Thuỷ, năm Kỷ Sửu (2009) cũng như vậy, nên khi đặt tên cho con, chữ phải có bộ “Hoả”, không được dùng bộ “thuỷ”. Hệ thống tên có bộ “Hoả” như sau:
Chước: Sáng tỏ, tốt tươi
Cự: Bó đuốc
Bỉnh: Văn minh
Phong: Đốt lửa
Diễm: ánh lửa
Luyện: Nung đúc
Hoàng: Sáng sủa
Huỳnh: Soi sáng
Thục: Tinh tường
Liệu: Đốt lửa
Yến: ăn uống
Chúc: Đuốc, nến
Lạn: Rực rỡ
Linh: Thiêng liêng
Huy: ánh sáng
Phong: Hiệu lửa
Yên: Chim yến, mây
Hồng: Lửa đỏ
Hân: Hơ nóng
Nhiên: Đốt cháy
Hoán: Rực rỡ
Phúc: Hơ sấy
Huân: Vui hoà
Quýnh: Lửa sáng
Đăng: Cái đèn
Doanh: Dinh quân
Tiếp: Điều hoà
Diệp: Chói lọi
Dược: Chói sáng
Tước: Bó đuốc
Hãn: Hơ lửa
Hi: Hớn hở
Sinh con năm Canh Dần (2010), đứa trẻ có mạng Tùng Bách Mộc, thuộc hành Mộc, khắc Lộ Bàng Thổ, nên tên phải có bộ “Mộc”, tránh dùng bộ “Thổ”. Hệ thống tên có bộ “Mộc” như sau:
Mộc: Cây, gỗ
Vị: Còn gọi là mùi, tương lai
Bản: Gốc, cội nguồn
Chu: Ñoû, phú quý
Phác: Cây thuốc, thật thà
Đoá: Bông hoa
Can: Gậy gỗ
Lý: Cây mận
Hạnh: Cây mơ
Tài: Vật liệu
Thôn: Làng xóm
Tiêu: Chuôi sao Bắc đẩu
Trượng: Cái gậy, đơn vị để đo
Ñoã: Cây đỗ
Kỷ: Cây làm thuốc
Thúc: Buộc, bó
Dang: Cán cờ, xà nhà
Hàng: Cái xuồng
Bôi: Cái chén
Đông: Phương đông
Cảo: Cao, sáng sủa
Tùng: Cây thông
Nam: Cây trò
Phương: Cây thuốc nhuộm
Lâm: Rừng
Mai: Cây mai
Chi: Cành
Bách: Cây thông lá nhỏ
Trụ: Cột
Giản: Kén chọn
Liễu: Cây liễu
Quế: Cây quế
án: Cái bàn
Đồng: Cây vong
Hoàn: Cây nêu
Điều: Cành nhỏ
Lữ: Ngưỡng cửa
Kỳ: Cờ
Bổng: Cái gậy
Tảo: Cây táo
Đường: Cây hải đường
Châm: Kim cài tóc
Xuân: Cây xuân 8.000 năm
Dương: Cây liễu
Du: Cây du
Trinh: Cỗi gốc
Tiếp: Cái mái trèo
Doanh: Cái cột
Hoè: Cây hoè
Tiêu: Cái ngọn
Thụ: Cây
Hoa: Cây hoa đuốc
Việt: Bóng rợp
Lư: Gỗ gụ
Linh: Chấn song
Lan: Cây lan, lan can
Đào: Cây đào
Trác: Cao vòi vọi
Lương: Cây nóc trên mái nhà
Đĩnh: Cái côn, thoi vàng
Sao: Ngọn cây
Lê: Cây lê
Miên: Cây bông
Tranh: Bực cửa
Bằng: Gác, nhà rạp
Thực: Cây
Chuyên: Đòn tay
Gia: Cây dừa
Phong: Cây phong
Nghiệp: Của cải, nghề nghiệp
Thu: Cây thu
Lang: Cây cau
Bảng: Cái bảng
Chương: Long não
Lưu, Lựu: Cây lựu
Kiều: Cái cầu
Hoành: Ngang
Đàn: Cây đàn, cái đàn
Anh: Cây anh đào
Quyền: Quả cân
Các chữ cùng bộ như bộ “Mộc” người ta dùng chữ nọ làm tên đệm cho chữ kia để có một tên kép. Thí dụ: Kiều Linh, Đào Chi, Quế Hoa, Lan Kiều, Việt Chương, Thu Trinh, Hạnh Lâm, Châm Anh.
Xu hướng ngày nay, vợ chồng trẻ hay đặt tên 4 hoặc 5 chữ cho con. Họ chồng đặt trước, họ vợ đặt sau, như:
- Nguyễn Lê Lan Kiều, Phan Trần Quế Hoa.
Nếu hai người cùng họ, thì biến âm một từ. Thí dụ:
- Nguyễn Nguyên Việt Trinh, Trần Trân Doanh Thụ.
Trường hợp đặt 5 chữ thì con gái thêm tên mẹ, con trai thêm tên bố ở giữa. Chẳng hạn mẹ tên là Thu, con gái sẽ là: Nguyễn Nguyên Thu Việt Trinh. Bố tên là Quyền, thì con trai sẽ là: Trần Trần Quyền Doanh Thu
Họ bỏ thói quen dùng chữ Thị để chỉ con gái, chữ Văn để chỉ con trai. ở Hương Canh, thờ Thành hoàng là Ngô Xương Văn, người ta kiêng chữ Văn, nên tên chỉ có hai chữ:
- Trần Dậu, Trần Khôi, Trần Nghiệp, Trần Đăng.
- Đường Ngưu, Đường Doanh, Đường Khang, Đường Miễn.
- Dương Châu, Dương Lãm, Dương Đá, Dương Bóng.

ở Yên Đồng, cả xã gần như chỉ có họ Nguyễn, để phân biệt các chi, người ta xét theo chữ đệm:
- Nguyễn Duy Sang, Nguyễn Duy Thuần, Nguyễn Duy Thuỷ.
- Nguyễn Khắc Hào, Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Khắc Tuệ.
- Nguyễn Văn Thức, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Văn Năm.
- Nguyễn Hữu Điền, Nguyễn Hữu Ngọ, Nguyễn Hữu Đảng.

Tên ngắn như Nguyễn Du, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, tên dài như Công Tằng Tôn Nữ Thị Nhân Lan, là những thực thể văn hoá. Cái tên biểu thị việc coi con cái, thế hệ kế tiếp là hậu duệ được yêu thương trìu mến, chăm sóc và dạy dỗ chu đáo. Đặt tên hay, tên đúng, tên gắn bó giữa chồng và vợ, thể hiện nối dõi tông đường là điều đáng trân trọng. Chính vì thế, vua Minh Mệnh tìm ra phép đặt tên đôi khá chặt chẽ và tế nhị, dễ chấp nhận đối với các hoàng tử ruột thịt. Vua đã thảo ra 11 bài thơ, trong đó có bài “đế hệ thi” và 10 bài “Phiên hệ thi”. Mỗi bài 20 chữ, chữ có nghĩa tốt và uyên bác, dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp sau, kể từ khi Minh Mệnh:

Miên, Hường, ưng, Bửu, Vĩnh.
Bảo, Quý, Định, Long, Tường.
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật.
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.

Theo phép này, tất cả con trai Minh Mệnh đều phải có tiền từ “Miên” tên thêm sau đó gia đình đặt. Đến con trai do thế hệ “Miên” đẻ ra, phải có tiền từ “Hường”. Chắt nội của vua Minh Mệnh, con của thế hệ “Hường” phải có tiền từ là “ưng”... Cứ thế đến hết 20 chữ của bài thơ đế hệ Triều Nguyễn đã thực hiện bài đế hệ thi đến chữ thứ 5, nhằm vào chữ “Vĩnh” là Vĩnh Thuỵ, tức vua Bảo Đại thì thoái vị, nhường quyền trị vì đất nước cho chính thể Dân chủ Cộng hoà.


Tác giả
#45980
12/03/2010 04:02 PM
không ngờ việc đặt tên cho con lại phải chú ý nhiều vấn đề thế các chị nhỉ
Chuyển đến:
Chia sẻ qua PNN Connect
Bình luận
Ảnh
Video
Mã nhúng
Bình luận của bạn phải gõ bằng tiếng Việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nội dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Bình luận có nội dung xấu sẽ bị xóa bỏ.

Thống kê
Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 565920
Diễn Đàn hiện có 75728 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký lethanh66909795