
Các địa chỉ du lịch ở Quy Nhơn - Bình Định
Nhân dịp mấy người bạn vừa đi chơi 30-4 ở Quy Nhơn về và khen ngợi
tính cách con người Bình Định không hề "chặt chém" khách du lịch, cũng
như các phong cảnh còn rất "tự nhiên", Nandos tranh thủ sưu tầm các hình
ảnh và các địa chỉ du lịch ở đây:
Đập Đá - Địa chỉ du lịch thú vị ở Bình Định
Huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định có 13 xã thì hầu hết các xã được bắt đầu
bằng chữ Nhơn, như: Nhơn Hòa, Nhơn Hưng, Nhơn Khánh, Nhơn Phong, Nhơn
Hạnh, Nhơn Thành, Nhơn Lộc… Riêng có một xã mang cái tên khác lạ: Đập Đá
(trước là xã, nay đã thành thị trấn).
Sở dĩ xã được mang tên hành chính như vậy vì xưa kia đây là vùng sông
nước với sông Kôn, sông Đập Đá và nhiều nhánh chằng chịt. Các cư dân
vùng này phải đắp đập bổi để canh tác gọi là đập Thạch Yển, sau là đập
Thạch Đề tức là Đập Đá, vì chỗ này sông rộng, có bến đá ong nổi tự nhiên
rất đẹp.
Đập Đá nằm ở phía đông thành Đồ Bàn xưa của Chiêm Thành và thành Hoàng
Đế sau này của vua Tây Sơn Thái Đức Nguyễn Nhạc. Là phên dậu của đất đế
vương nên nơi đây hội tụ nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ tinh xảo để
cung cấp cho vua quan và các thân bằng quyến thuộc chi dùng. Đó là nghề
dệt vải với các loại hàng cao cấp như lụa, the, lương, xuyến, lãnh. Đó
là nghề rèn, nghề đúc đồng với các đồ thờ cúng như tượng, lư, đỉnh… Đó
là nghề làm nón ngựa, làm giày da guốc mộc để các chàng công tử ăn diện.
Rồi là các nghề chăn tằm ươm tơ, nghề tiện gỗ, nghề gốm, nghề kim hoàn,
nghề khảm xà cừ, nghề làm nhang, làm đồ hàng mã… khá phát triển ở mỗi
thôn xóm của Đập Đá tạo nên sự đa dạng ngành nghề thủ công và việc buôn
bán sầm uất.
Đập Đá là nơi xưa kia anh Hai Trầu Nguyễn Nhạc thường xuôi ngược sông
Kôn từ Tây Sơn Thượng đạo xuống, chở theo trầu cau mua bán, đổi chác
hàng hóa ở đây nhưng cũng là để thăm dò dân tình, chuẩn bị tổ chức lực
lượng cho cuộc khởi nghĩa. Đây chính là quê hương của ông "Chảng Ngang
Thiên" Đinh Văn Nhưng, một trong những thầy dạy võ, người đỡ đầu anh em
Tây Sơn.
Đập Đá nổi tiếng từ lâu đời nên đã đi vào ca dao:
Em về Đập đá quê cha
Gò Găng quê mẹ, Phú Đa quê chồng
...Anh về Đập Đá đưa đò
Trước đưa quan khách, sau dò ý em
…Anh về Đập Đá, Gò Găng
Cùng em kéo sợi dưới trăng chung tình…
Chinh phục đỉnh Hàm Rồng
Đến địa phận thôn Long Thành thuộc xã Phước Mỹ, Tp. Quy Nhơn, theo con
đường thôn ngoằn ngoèo, uốn khúc quanh những khu rừng bạch đàn và keo lá
tràm khoảng chừng 1,6 km, bạn sẽ đến được bờ tràn của hồ Long Mỹ.
Men theo bờ tràn của đập vài trăm mét nữa, hẳn bạn sẽ ngỡ ngàng khi bắt
gặp con suối Ngang (gọi là suối Đá), do nước đổ từ đỉnh núi Hàm Rồng và
chảy xuống hồ Long Mỹ. Lòng suối có rất nhiều phiến đá với đủ hình thù,
nhỏ, chen nhau đứng, ngồi. Nước suối Ngang chảy từ trên đỉnh núi cao và
dốc, lại bị nhiều phiến đá ngáng trở nên giận dữ trào ra những dòng thác
trắng xóa.
Tiếng róc rách bất tận của nước. Những thanh âm vi vút của rừng và cảm
giác được chinh phục, khám phá những bí mật còn nằm sau những tảng đá
khổng lồ kia đã đưa bạn đến với lưng chừng núi từ lúc nào.
Tại đây, bạn đừng bỏ qua cơ hội được tắm nước "Giếng Tiên". Đó là một
hốc nước rộng trong văn vắt, quanh năm không bao giờ khô cạn. Sau một
hồi lội suối, trèo non, được tắm nước Giếng Tiên thì tinh thần sảng
khoái.
Dân địa phương kể rằng: trước đây, ở suối Ngang có một loại đặc sản rất
có giá trị, đó là loài cua Đinh. Cua Đinh (còn gọi là con Trạnh) trông
giống như ba ba nhưng mai cứng hơn, vóc dáng to lớn hơn, có con cân nặng
5-7 kg. Thịt cua Đinh vừa dai, ngọt vừa thơm nên giá trị kinh tế rất
cao. Về đêm, đi câu chình ở suối Ngang cũng là một cái thú… Còn bây giờ,
do sự khai thác "tận diệt", những sản vật quý hiếm ở suối Ngang hầu như
không còn.
Càng ngược lên cao, bạn sẽ gặp nhiều thác đẹp. Nhưng muốn chinh phục
đỉnh núi, có lẽ cần phải có sự chuẩn bị "dài hơi" cho đôi chân. Ông Trần
Đại Long, một người dân nhà ở gần lưu vực hồ Long Mỹ cho biết: "Người
dân ở đây muốn biết "mưa thuận, gió hòa" hay không, cứ nhìn lên đỉnh
núi. Hôm nào đỉnh núi có sương mù thì nhất định 1-2 ngày sau trời sẽ có
mưa"...
Đỉnh Sương Mù (đỉnh Hàm Rồng) còn có một loại chè đặc biệt gọi là chè
Tiên, người dân thường lên núi hái về thái nhỏ phơi khô để dùng. Chè có
vị ngọt, chát ở đầu lưỡi và đặc biệt còn chữa được bệnh đường ruột.
Tháp Đôi Quy Nhơn
Đất Bình Định có nhiều tháp, cụm tháp Chàm nằm rải rác ở 8 địa điểm
thuộc các huyện phía nam tỉnh, như cụm tháp Dương Long (3 tháp) ở huyện
Tây Sơn; tháp Bánh Ít (4 tháp) ở Phước Lộc, Tuy Phước; tháp Cánh Tiên ở
Nhơn Hậu, An Nhơn và một số tháp ở Phù Cát. Riêng Quy Nhơn có tháp Đôi
(2 tháp) ở gần đường Trần Hưng Đạo, cửa ngõ vào thành phố.
Tháp Đôi Quy Nhơn tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, bây giờ thuộc phường
Đống Đa, cách trung tâm thành phố chừng 3 km về phía tây bắc. Gần tháp
Đôi là cầu Đôi trên quốc lộ 19, bắc trên nhánh sông từ hồ đèo Son chảy
ra đầm Thị Nại. Chẳng hiểu sao người xưa lại cứ "ghép đôi":
Cầu Đôi liền với Tháp Đôi
Quanh năm quấn quýt như tôi với nàng
Tháp Đôi cũng như các tháp Chàm khác ở Bình Định, là một di tích văn hóa
nghệ thuật mang màu sắc tôn giáo của người Chăm xa xưa. Các tháp có
niên đại từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII. Tháp cấu trúc khá độc đáo, đặc
biệt là kỹ thuật mài dũa, lắp ghép các tảng đá chồng khít lên nhau rất
vững chắc.
Quanh tường phía ngoài, các góc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu
chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú thần theo tín ngưỡng của người
Chăm rất sinh động. Tháp Đôi một lớn một nhỏ đứng gần kề nhau như cặp vợ
chồng quấn quít. Tháp đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá khá nặng
nề.
Được sự giúp đỡ của các chuyên gia Ba Lan và các chuyên gia khảo cổ
trong nước, tháp Đôi đã được Nhà nước đầu tư hàng tỉ đồng để trùng tu,
tôn tạo. Từ 1991-1997, các cán bộ khoa học và những người thợ khéo ở Quy
Nhơn đã miệt mài đục đẽo, tạo tạc với kỹ thuật mài gạch, lắp ghép khá
thành công, trả lại gần như dáng vẻ ban đầu của tháp.
Tháp Đôi Quy Nhơn không chỉ là nơi để các nhà nghiên cứu lịch sử, văn
hóa Đông Nam Á, văn hóa Chăm tiếp tục công việc mà còn là một điểm tham
quan du lịch hấp dẫn ở Bình Định.
Thập Tháp Di Đà Tự, danh lam trời Việt
Trên đất nước Việt Nam bốn nghìn năm văn vật đã có rất nhiều ngôi chùa
cổ nổi tiếng. Có ngôi chùa ra đời một cách hồn nhiên từ nơi gò đống, trẻ
chăn trâu phát hiện một mô đá tượng hình đấng từ bi, bỗng thấy không
thể giỡn đùa được mà mỗi lúc đi ngang dứt khoát không thể không cúi đầu.
Có ngôi chùa ra đời từ giấc mơ, khi thì của một thường dân vượt qua cơn
hoạn nạn, khi thì do một vị quan hưu "trẻ nghĩ đến nhà già nghĩ đến
chùa", khi thì của một bậc đế vương đang trên đường vi hành chọn chốn
tiềm long ẩn phụng. Có ngôi chùa ra đời từ một lời nguyện gia đình, dòng
tộc hoặc xóm làng như sấm truyền. Đạo Phật qua các triều đại phong kiến
có lúc là quốc đạo. Chùa Trấn Quốc tương truyền có từ thời Lý Nam Đế
(544-548) khi ấy được gọi là chùa Khai Quốc. Chùa Diên Hựu (Một Cột) do
vua Lý Thái Tông mộng thấy Phật Quan Âm dắt lên tòa sen nên xây tượng
hình tòa sen dựng lên bởi cột đá giữa hồ. Chùa Keo kết hợp giữa đền và
chùa, được dựng bởi thiền sư Dương Không Lộ với hàng trăm gian "thượng
gia hạ trì" giữa biển lúa Thái Bình. Chùa Quán Sứ đời Lê dựng lên cạnh
khu nhà đón tiếp các sứ thần Chiêm Thành, Lão Qua để họ thuận tiện hương
đăng tụng niệm. Chùa Yên Tử là nơi phát tích thiền phái Trúc Lâm với
tam tổ: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang. Chùa Mía, chùa Tây
Phương, chùa Thiên Mụ, chùa Bút Tháp v.v… mỗi ngôi là một sự tích vừa
mang ý nghĩa Phật giáo vừa hàm chứa phong tục tập quán và tín ngưỡng
mang mầu sắc Việt Nam.
Thập Tháp Di Đà Tự thuộc vào hàng chùa chiền ra đời sớm ở Đàng Trong,
tính đến nay đã hơn ba trăm năm, từ 1677. Mười ngôi tháp yểm hậu của
người Chàm trên khu gò phía bắc thành Đồ Bàn đã gãy đổ nhưng còn in đấu
trong địa danh xứ sở này, tương truyền do đó mà thiền sư Nguyên Thiều,
người sáng lập chùa dùng làm tự danh. Chùa nằm trên đồi Long Bích, mặt
hướng về núi Mò O, là vùng Lãng Uyển của vua chúa Chiêm Thành xưa. Nay
hãy còn các Giếng Vuông và Hồ Sen xây bằng đá ong to đặc trưng trong xây
dựng Chàm. Di Đà là tên một vị Phật mà các Phật tử làm cửa miệng trong
câu chào hỏi: "Nam mô A Di Đà Phật". Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1715)
là vị tổ thứ 33 thiền phái Lâm Tế Chánh Tông, dừng chân nơi đây trên
đường truyền đạo với một ngôi lều cỏ đơn sơ được dựng lên. Bảy năm sau,
1683, nhà chùa và bổn đạo dùng gạch đá của mười ngôi tháp đổ dựng lên
chùa thay ngôi lều cỏ cũ nát.
Chùa Thập Tháp, như một số ngôi chùa khác ở Việt Nam, đã mất mát khá
nhiều di sản vật thể cũng như phi vật thể, qua các cuộc chiến chinh ly
loạn. Nhưng những gì lưu giữ được, cũng chứng minh một cách hùng hồn giá
trị của Tổ Đình mà ai muốn nghiên cứu lịch sử văn hóa xã hội nói chung,
lịch sử tôn giáo nói riêng ở Đàng Trong thời kỳ này cũng phải để tâm
khảo cứu.
Đánh thức Bãi Bàu
Trước đây, cái tên Bãi Bàu còn xa lạ với nhiều người và cũng chưa có tên
trong bản đồ du lịch tỉnh Phú Yên. Từ khi con đường biển (tránh đèo Cù
Mông) nối Sông Cầu - Phú Yên với Quy Nhơn - Bình Định mở ra, Bãi Bàu đã
được đánh thức.
Bãi Bàu nằm phía Bắc huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, cách con lộ Sông Cầu –
Quy Nhơn chừng 200m. Ấn tượng đầu tiên khi đặt chân đến Bãi Bàu, du
khách sẽ thấy một bãi biển tuyệt sạch, hình cánh cung, dài chừng 1.000m,
bao bọc bởi hai dãy núi nhô ra biển.
Bãi Bàu còn có những ghềnh đá, đồi núi, tạo nên vẻ nguyên sơ, hữu tình.
Khách đến đây ngoài tắm biển còn có thể nhảy ghềnh, câu cá, leo núi.
Hiện nay ở đây đã hình thành khu du lịch nghỉ dưỡng mang tên Bãi Bàu với
nhiều hạng mục: nhà hàng, nhà nghỉ, khu lều trại.
Đặc biệt, trên lưng chừng núi còn có các nhà nghỉ được thiết kế theo
kiểu nhà rông Tây Nguyên xinh xắn. Đến khu du lịch Bãi Bàu, thực khách
sẽ có dịp thưởng thức nhiều đặc sản biển như sò huyết Ô Loan, cá thu
chấm với nước mắm Ông Già ngon trứ danh ở Phú Yên.
Muốn đến Bãi Bàu, du khách có thể đi từ thị xã Tuy Hòa ra nhưng tiện hơn
vẫn là từ thành phố Quy Nhơn đi vào chừng 15km. Thường, tour du lịch
của các hãng lữ hành thiết kế: buổi sáng, sau khi dùng điểm tâm tại TP
Quy Nhơn khách sẽ tham quan cụm danh thắng Ghềnh Ráng – mộ Hàn Mặc Tử –
bãi Trứng, bãi tắm Hoàng Hậu – bệnh viện và làng phong Quy Hòa (khoảng
11 giờ), sau đó tiếp tục đến Bãi Bàu để tắm biển, dùng cơm trưa, nghỉ
ngơi (nếu muốn lưu lại thì thuê phòng hoặc quay trở lại Quy Nhơn).
Cổ Kính Sơn Long
Chùa Sơn Long, dân địa phương quen gọi là chùa Hang, đã được thành lập
hơn 300 năm và là một ngôi chùa cổ thứ nhì của tỉnh Bình Định, chỉ đứng
sau chùa Thập Tháp (An Nhơn). Chùa Sơn Long nguyên là Giang Long Thiền
Thất, tọa lạc trên sườn núi Trường Úc.
Sau đó, chùa được tái thiết trên một khu đất hình thang sát chân núi
(Trường Úc), cách cầu Trường Úc khoảng 700m về hướng Đông, nay thuộc
phường Nhơn Bình, TP Quy Nhơn.
Bạn sẽ gặp một ngôi chùa cổ nép mình bên núi Trường Úc, cổng tam quan
khiêm nhường hòa mình cùng hàng rào cây lá xanh mướt xưa kia nay đã lùi
vào trong, nhường chỗ cho đôi cổng mới được thiết kế quy mô và hiện đại
hơn nhưng ngôi chùa vẫn giữ được những nét rêu phong, cổ kính ban sơ của
nó.
Kiến trúc chùa đã có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như
cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi.
Chính vẻ mộc mạc, hoang sơ của khuôn viên chùa đã phần nào tạo nên vẻ u
huyền cổ kính cho chùa. Tương truyền, dưới chân núi phía sau chùa, xưa
kia có một tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới
với một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Vào những tiết hạn hán, các cụ
tiên chỉ trong vùng thường đến đây ăn chay, đạp đất để cầu mưa thuận,
gió hòa. Tảng đá đó có tên gọi đá Hàm Long, nay không còn nữa vì nạn chẻ
đá. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ
nét rêu phong, cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có mộ tháp đã được
trùng tu khang trang hơn. Theo Đại Thích Đồng Đức, đang trụ trì chùa,
năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan âm ở hướng Tây.
Năm 1996, xây tượng Thích ca Mầu Ni tọa thiền phía tây bắc... mang lại
sắc khí mới cho chùa.
Đến Sơn Long, bạn còn được chiêm ngưỡng bức tượng Phật Lồi 7 đầu rồng
bằng đá nặng 1,5 tấn, cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức
tượng được xác định của người Chămpa tạc từ thế kỷ thứ VIII... Dù dáng
vẻ còn khiêm tốn nhưng Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm
thú, lễ bái, vãn cảnh... đặc biệt là trong những dịp đầu năm mới.
Hầm Hô - lâm viên du lịch hoang dã
Hầm Hô là khu di tích danh lam thuộc thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú huyện Tây
Sơn, tỉnh Bình Định, Hầm Hô còn có địa thế hiểm yếu, là căn cứ địa của
phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, Nghĩa Bình Cần Vương chống Pháp của Mai
Xuân Thưởng. Đây cũng là địa bàn những năm chống Mỹ cứu nước.
Ngày 17-2-1995 UBND Bình Định đã ra Quyết định số 287/QĐ-UB công nhận
khu danh thắng Hầm Hô và cho đăng ký khoanh vùng bảo vệ với diện tích
150.000 km2. Là một thắng cảnh nổi tiếng thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình
Định, nhưng Hầm Hô hấp dẫn không phải bởi những công trình xây dựng nguy
nga tráng lệ do bàn tay con người tôn tạo.
Chuyện kể rằng, Hầm Hô là tiếng gọi dân dã có tự rất lâu đời bắt nguồn
từ một hiện tượng có thật thường xảy ra trên đoạn sông Kút. Hàng năm,
vào thời điểm nóng nhất của mùa khô, đặc biệt là những năm hạn hán, lúc
mà người dân mong đợi mưa xuống thì ngay trên đoạn sông này vào ban đêm
thường có những âm thanh lạ lùng nổi lên rất rõ tựa như tiếng người cùng
nhau hô hoán. Sau đó một thời gian rất ngắn, trời có mưa giông. Từ
những tiếng hô hoán như vậy nên đoạn sông này được gọi là Hầm Hô, xuất
phát từ cụm "hô phong hoán vũ" mà việc cầu mưa là một vấn đề rất linh
thiêng từ thuở xa xưa. Tuy nhiên, theo giải thích của các nhà khoa học
thì đây chỉ là hiện tượng tự nhiên. Hầm Hô là hạ lưu của sông Kút chảy
uốn khúc quanh theo hai vách núi dày đặc cây rừng và đá trải nên nhiệt
độ luôn thấp hơn lưu vực đồng bằng. Khi hạn hán đạt đến đỉnh điểm thì
chắc chắn đất trời sẽ chuyển để đổ mưa. Chính trong giai đoạn chuyển mưa
đã tạo nên những luồng không khí lạnh hơn, mạnh hơn tràn về hạ lưu. Khi
qua Hầm Hô gặp phải một địa hình đặc biệt: cây rừng dầy đặc cùng hang
hốc thâm sâu của đá núi đã tạo nên âm thanh vang dội.
Theo người dân địa phương, mùa xuân là thời điểm đẹp nhất trong năm nếu
muốn đến vãn cảnh Hầm Hô. Vào những ngày cuối đông, trời giáp Tết vẫn
còn se lạnh, lúc đó sẽ có hàng vạn du khách tới Hầm Hô trên lối mòn
ngoằn ngoèo dọc suốt bên sông. Du khách mua vé thuyền 5.000đ/người/1ượt
để đi tới Bờ Ðập. Sau đó, ngược dòng sông, qua thắng cảnh lộng lẫy như
Vực Sặc, Vực Bà, Vực Hòm, Ðá Cháy, Thác Hai, Thác Ba, Ðỉnh Sương Mù,
Làng Cát..., những nơi tận cùng dòng sông Kút giáp với tỉnh Phú Yên và
Gia Lai, du khách có một cảm giác thú vị và hiếu kỳ về một chuỗi vô tận
của thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ.
Dòng sông Kút trải dài uốn lượn theo non xanh trùng điệp với những cảnh
quan hoành tráng nên thơ đang nép mình phía sau cửa ngõ Hầm Hô. Từ đầu
xuân đến cuối hạ, du khách có thể tới Hầm Hô thưởng ngoạn. Ðể đi theo
tour tự mình khám phá, phải có ít nhất hai người dân địa phư ơng dẫn
đường với giá một ngày công cho một người là 50.000 đ bao ăn uống hoặc
liên lạc với Ban quản lý du lịch Hầm Hô. Trong hành trình trở về sông
Kút, một điều dễ dàng nhận thấy là tiềm năng sẵn có trên con sông này
nhiều nhưng chưa có điều kiện để phát triển. Hầm Hô hiện tại là khu du
lịch khá nổi tiếng vì nét nguyên sơ của nó, nhưng để phát triển hơn nữa
thì chưa thể thực hiện ngay được. Hầm Hô hấp dẫn nhưng gian truân và
cách trở.
Cũng đã có người mơ tới một đường cáp treo được xây dựng dọc theo bờ
sông Kút để cho du khách chiêm ngưỡng vẻ hoang sơ hùng vĩ của núi rừng,
cái quanh co uốn khúc của dòng sông, không gian mát dịu sảng khoái cùng
ánh trăng rừng lung linh trên sóng bạc. Lúc đó Tây Sơn, Bình Ðịnh này sẽ
là "Lâm viên du lịch hoang dã " nổi bật nhất nhì đất nước. Hy vọng khi
có đường cáp treo, Hầm Hô sẽ là nơi hội ngộ du khách từ khắp bốn phương.
Tuyến du lịch sinh thái:
Tuyến du lịch sinh thái biển, đảo
● Lộ trình: Quy Nhơn - Phù Cát.
● Các điểm tham quan: Bãi biển Quy Nhơn, Hoàng Hậu, Quy Hòa, Bãi Dài, Nhơn Lý,
Trung Lương, Vĩnh Hội, Tân Thanh, cảnh quan bán đảo Phương mai, các hệ sinh thái
đặc thù trên và quanh đảo Nhơn Châu, Đảo Yến, cảnh quan Đầm Thị Nại.
Tuyến du lịch sinh thái rừng, hồ:
● Lộ trình: Quy Nhơn - An Nhơn - Tây Sơn.
● Các điểm tham quan: Thắng cảnh đồi Ghềnh Ráng, Cảnh quan và các hệ sinh thái
trên và quanh Hồ Núi Một, thắng cảnh Hầm Hô.
Tuyến du lịch lịch sử - văn hóa:
Tuyến du lịch tham quan nghiên cứu văn hóa Chăm:
● Lộ trình: Quy Nhơn - Tuy Phước - Tây Sơn - Phù Cát - An Nhơn - Quy Nhơn.
● Các điểm tham quan: Tháp Đôi, tháp Bình Lâm tháp Bánh Ít, tháp Thủ Thiện,
tháp Dương Long, Tháp Cánh Tiên, thành Đồ Bàn, tháp Phú Lốc, Bảo tàng tổng hợp
Tuyến du lịch tham quan nghiên cứu di tích Quang Trung - Nguyễn Huệ và
phong trào Tây Sơn:
● Lộ trình: Quy Nhơn - Tây Sơn - An Nhơn.
● Các điểm tham quan: Thắng cảnh Hầm Hô, Bảo tàng Quang Trung, Điện Tây Sơn, từ
đường Võ Văn Dũng, từ đường Bùi Thị Xuân, thành Hoàng Đế, Bãi Nhạn, Núi Tam
Tòa.
Tuyến du lịch tham quan, nghiên cứu làng nghề:
● Lộ trình: Quy Nhơn - Đập Đá - Nhơn Hậu - Cát Tường - Quy Nhơn.
● Các điểm tham quan: Nghề rèn, nghề làm đồ gốm gia dụng, nghề làm đồ gỗ thủ
công mỹ nghệ, nghề làm nón, nghề làm bánh tráng.
Tuyến du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh:
● Lộ trình: Quy Nhơn - Hội vân - Cát Hải - Cát Tiến - Quy Nhơn.
● Các điểm tham quan: Quy Hòa, Hội Vân, Cát Hải, Cát Tiến.
Tuyến du lịch tổng hợp, tham quan nghiên cứu các di tích lịch sử văn hóa,
danh lam thắng cảnh:
● Lộ trình: Quy Nhơn - Tuy Phước - An Nhơn - Phù Cát - Tây Sơn - Quy Nhơn.
● Các điểm tham quan: Thắng cảnh đồi Ghềnh Ráng, mộ Hàn Mặc Tử, bán đảo Phương
Mai, mộ Đào Tấn, Nhà lưu niệm Xuân Diệu, Núi Bà, chùa Linh Phong, chùa Thập Tháp,
suối khoáng Hội Vân, hồ Núi Một, Điện Tây Sơn, thắng cảnh Hầm Hô, Chùa Long
Khánh, hệ thống di tích nghệ thuật kiên trúc Chăm (Thành Đồ Bàn, các tháp
Chàm).
(ST)