Phụ nữ mang thai ăn gì tốt cho thai nhi nhất ebook Cẩm nang 101 điều cần biết nè các chị - Chuẩn bị mang thai - Làm mẹ - diendanphunu.vn | Diễn đàn phụ nữ & Thế giới Phụ nữ Online lớn nhất Việt Nam
Tìm kiếm:  
 
 
 
13/04/2010 06:30:33 PM
Phụ nữ mang thai ăn gì tốt cho thai nhi nhất ebook Cẩm nang 101 điều cần biết nè các chị

Bà bầu phụ nữ mang thai ăn gì tốt cho thai nhi nhất và đứa con trong bụng mẹ bụ bẫm phát triển đầy đủ còn bà mẹ thì giảm ốm nghén? Theo các nghiên cứu thì những món đó là: lòng đỏ trứng gà, tôm, hàu, hải sản tươi ngon, cá chép, uống sữa bầu, sữa chua v.v...

Phụ nữ mang thai nên kiêng ăn gì?

Trong thời kỳ mang thai dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng quyết định sức khỏe của bà mẹ và thai nhi nên mọi người đều có ý thức ăn cho cả hai. Tuy nhiên, một chế độ dinh dưỡng tốt là phải cân đối về chất và hợp lý về lượng.
 

Phụ nữ mang thai nên kiêng ăn gì?

Không ăn thức ăn nhiều mỡ

Nhiều nghiên cứu  y họccho thấy, ung thư vú và ung thư cổ tử cung đều có khuynh hướng ditruyền gia tộc. Nếu phụ nữ  mang thai ăn nhiều mỡ trong thời gian  dài,con cái sau này sẽ có nhiều nguy cơ ung thư sinh dục. Các nhà y học đãtừng chỉ ra rằng, bản thân  mỡ không gây ra ung thư, nhưng nếu ăn nhiềuthức ăn có lượng mỡ cao sẽ tăng khả năng tổng hợp kích thích tuyến vú,ảnh hưởng sức khỏe  bà mẹ và thai nhi.

Không ăn thức ăn nhiều đường

Ở phụ nữ  mang thai chứcnăng thải đường của thận sẽ giảm ở những mức độ khác nhau, nếu đườngtrong máu quá cao, thận của phụ nữ  mang thai sẽ làm việc  quá tải, khôngcó lợi cho sức khỏe. Nhiều nghiên cứu  y học cho thấy, lượng đường hấpthụ quá nhiều sẽ làm suy yếu khả năng miễn dịch của cơ thể, dẫn đếngiảm khả năng kháng bệnh nên dễ mắc bệnh và nhiễm virut.

Không nên ăn quá mặn

Các nghiên cứu  y học chorằng, tỷ lệ tăng huyết áp có liên quan đến lượng muối ăn hằng ngày,lượng muối ăn càng nhiều, tỷ lệ tăng huyết áp càng cao. Tăng huyết áp ởphụ nữ mang thai là một trong các yếu tố nguy cơ nhiễm độc thai nghén(bao gồm phù, tăng huyết áp và albumin niệu…). Vì vậy, để giữ sứckhỏe thời kỳ mang thai, các chuyên gia  khuyên lượng muối ăn mỗi ngàychỉ nên khoảng 6g.

Không ăn nhiều chất chua

Phụ nữ mang thai thời kỳđầu thường nghén, chán ăn, buồn nôn, nhiều người thích ăn của chua. Tuynhiên, những nghiên cứu  gần đây của các nhà khoa học  Liên bang Đức  pháthiện, thời kỳ đầu thai nghén nếu cơ thể người mẹ hấp thụ chất chua(axit) và các chất có vị chua khác dễ bị tích lũy trong tổ chức bàothai, ảnh hưởng đến việc sinh trưởng, phát triển và sinh sản bìnhthường của tế bào thai nhi, đồng thời dẫn đến đột biến gen, thai dễ dịdạng. Vì thế, phụ nữ  mang thai trong 2 tuần đầu không nên ăn và uốngnhiều đồ chua.

Không nên lạm dụng thuốc bổ

khi phụ nữ  mang thai,lượng máu trong hệ thống  tuần hoàn của cơ thể tăng rõ rệt, tim làm việcnhiều hơn, huyết quản trong tử cung, vách âm đạo và ống dẫn trứng luôntrong trạng thái dãn nở, sung huyết. Hơn nữa, chức năng nội tiết củaphụ nữ mang thai mạnh mẽ hơn, rất dễ tích nước và natri sinh ra phù nề,tăng huyết áp.

Mặt khác, dịch vị dạ dàycủa phụ nữ  mang thai tiết ra ngày càng ít đi, có hiện tượng ăn khôngthấy ngon miệng, dạ dày trướng khí táo bón. Trong trường hợp này, phụnữ mang thai lại thường xuyên uống như thuốc bổ, nhân sâm, lộc nhung vàcác thuốc bổ khác càng khiến cho nội tiết mất cân đối, khí thịnh âmhao, phù nề, tăng huyết áp, táo bón, thậm chí còn sảy thai hoặc thai bịchết lưu.

Không ăn thực phẩm  đã biến chất

Phụ nữ mang thai ăn cácloại thực phẩm  bị nhiễm độc hoặc có độc tố, không chỉ bị nhiễm độc cấptính hoặc mãn tính, thậm chí còn hại đến thai nhi. Trong 2 – 3 thángđầu mang thai, phôi thai đang phát triển, tế bào phôi đang trong giaiđoạn phân hóa, lúc này nếu độc tố xâm hại, khiến nhiễm sắc thể bị phávỡ hoặc có biến dạng, có khi ngừng phát triển và dẫn đến thai nhi bịchết hoặc sảy thai, có khi bị quái thai, dị tật bẩm sinh như bị timtiên thiên.

Mặt khác, trong thời kỳthai nghén, chức năng của các cơ quan  trong cơ thể chưa hoàn thiện. Đặcbiệt là chức năng của gan, thận đều rất yếu, các chất độc gây nhiễm độccho thai nhi và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.

Không ăn chay dài ngày

Có một số phụ nữ  trongthời kỳ mang thai muốn có thân hình gọn gàng, thon thả, hoặc một sốngười vì điều kiện kinh tế  hạn chế, thường ăn chay dài ngày, làm ảnhhưởng đến thai nhi. Theo các nhà y học, nếu thời kỳ mang thai không chúý dinh dưỡng  sẽ không cung cấp đủ protein cho thai nhi, số tế bào não của thai giảm, ảnh hưởng đến trí lực của trẻ sau này. Nếu lượng mỡ hấpthụ không đủ, thai không đủ trọng lượng, sức đề kháng kém. Nếu ăn chay,bản thân phụ nữ  khi mang thai cũng sẽ thiếu máu, phù nề và tăng huyết áp.

Không uống đồ uống có chứa chất kích thích

Các nghiên cứu  y học chothấy, nếu phụ nữ  mang thai uống rượu, cồn trong rượu sẽ vào cơ thể thainhi qua cuống nhau thai, trực tiếp  gây tác hại cho thai nhi, thai pháttriển chậm, hoặc có một số bộ phận bị dị dạng như: đầu nhỏ, cằm ngắn,thân ngắn (lùn), thậm chí tứ chi và tim cũng dị dạng, có trẻ ra đời trítuệ đần độn, ngu dốt, bướng bỉnh, dễ mắc bệnh.

Ngoài ra, các nhà y họckhuyến cáo phụ nữ  mang thai không nên uống nhiều đồ uống lạnh, không nên ăn nhiều đồ ăn lạnh, đề phòng động thai và thai phụ dễ bị đau bụngđi ngoài.

Chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

1. Ăn nhiều dầu thực vật để con không bị chàm da

 Chàm là bệnh ngoài da trẻ em dễ mắc phải, một trong những nguyên nhân quan trọng là khi mang thai các bà mẹ ăn quá ít dầu thực vật. Axít béo cần cho cơ thể chủ yếu có từ dầu thực vật, có rất ít trong mỡ động vật, khi thiếu loại dưỡng chất này, da trẻ em khô ráp, xù xì, tóc dễ gẫy. Với thai nhi, axít béo truyền từ mẹ sang qua cuống nhau thai. Vì thể, để con cái khoẻ mạnh, da và tóc đẹp, các bà mẹ mang thai nên ăn nhiều dầu thực vật. Đương nhiên, cũng không thể không ăn mỡ động vật.

2. Uống ít cà phê để con sinh ra không bị thấp bé

Thể hình thấp bé, ngoài nhân tố di truyền và khí hậu ra, thói quen ăn uống cũng là một nhân tố quan trọng. Ở Đức đã có một công trình nghiên cứu 1000 phụ nữ mang thai, mỗi ngày uống 3 cốc cà phê trở lên, những đứa trẻ được sinh ra trọng lượng không quá 2kg.

Nước chè, cà phê, côca là 3 loại nước uống cò hàm lượng cafein lớn, có một số loại chè hàm lượng cafein còn cao hơn cả cà phê. Vì vậy, để có được đứa con mạnh khoẻ, trong thời kỳ mang thai, bạn không nên uống hoặc uóng ít đồ uống có chứa cafein.

3. Ăn nhiều thức ăn có chứa canxi, sắt... và muối vô cơ để con sinh ra không bị còi xương

Xương trẻ phát triển cần nhiều canxi, khi mang bà mẹ thiếu canxi, đứa trẻ sinh ra sẽ bị chân yếu tay mềm, thậm chí nhũn xương, dễ bị còi xương. Sắt giúp cho thai nhi và bà mẹ mang thai tạo ra huyết sắc tố, nếu thiếu sắt trong máu, thai nhi sẽ chậm tăng cân. Nếu thiếu máu trầm trọng, có thể dẫn đến đẻ non, thai chết lưu và đứa trẻ mới sinh ra sẽ bị ngạt thở. Để khắc phục hiện tượng này, các bà mẹ mang thai cần ăn nhiều thức ăn có chứa sắt, canxi như các loại rau xanh, các loại đậu, lòng đỏ trứng gà, rong biển, bầu dục lợn, táo đỏ, rau chân vịt... Khi càn thiết, dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ, có thể ăn thêm viên sắt, viên canxi, dầu gan cá.

4. Tuyệt đối không ăn khoai tây đã mọc mầm, thối rữa

Trong khoai tây có một loại độc tố, tập trung phân bố ở bộ phận mầm, độc tố này sau khi vào máu sẽ hoà tan trong máu, làm tê liệt vận động, ảnh hưởng đến trung khu hô hấp, kích thích niêm mạc dạ dày cuối cùng làm tê liệt trung khu hô hấp và gây tử vong. Nếu phụ nữ ăn nhiều khoai tây có chứa kiềm sinh vật tương đối cao, tích tụ lại trong cơ thể dễ sinh con quái thai. Vì những lý do trên, tốt nhất phụ nữ mang thai không ăn hoặc ăn ít khoai tây./.

Sữa cho phụ nữ mang thai

Các loại sữa luôn tốt cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Nhưng đặc biệt khi mang thai thì các chị em lại quan tâm đến sữa nhiều hơn để baby của mình được chăm sóc ngay từ những ngày đầu, và cũng là để bổ sung nguồn chất dinh dưỡng tốt từ sữa cho mẹ nữa.

Bản thân mình bình thường đã thích uống sữa tươi, đến khi biết là có bầu thì cũng nghe nhiều người khuyên là nên uống thêm sữa bầu. Lần đầu mang thai nên mình không thể nhận là có kinh nghiệm gì trong vụ nên uống sữa nào, mình chỉ mong qua bài viết này sẽ nhận được những chia sẻ của các mẹ đã từng có em bé, các chị các bạn cũng đang lần đầu mang thai như mình. Dưới đây là những thông tin mình đã tìm hiểu được về vấn đề nên uống sữa nào.

1. Sữa bầu chỉ có ở các nước châu Á, không có ở các nước Âu Mỹ.

Đây là một thực tế. Ở các nước châu Âu Mỹ, các bà mẹ mang thai chỉ uống sữa tươi, họ cũng không biết đến loại sữa gọi là sữa bầu. Mình đã vào những website của hãng sữa nổi tiếng thế giới như Abbott, Mead Johnson, Fonterra thì các trang ở các nước Âu Mỹ và NZ không hề có sữa bầu, chỉ có sữa dành cho trẻ sơ sinh và trẻ em, người lớn. Chỉ các trang ở các nước khu vực châu Á thì trong danh mục sản phẩm mới có sữa bầu.

Lý do là vì sữa bầu là loại sữa rất chất, chủ yếu để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho phụ nữ có khẩu phần ăn hàng ngày bị thiếu chất. Theo khẩu phần ăn ở phương Tây thì họ đã nạp đủ các chất đó trong bữa ăn, vừa do tính chất bữa ăn, vừa do điều kiện kinh tế xã hội đã phát triển cao. Do đó nếu như bữa ăn của bạn đảm bảo được dưỡng chất cần thiết thì không chắc đã phải uống sữa bầu. Các bà mẹ ở phương Tây chỉ uống tăng lượng sữa tươi hàng ngày lên thôi, và thực tế là các bé baby Tây đều trông rất yêu và khỏe mạnh, lanh lợi.

2. Sữa bầu ở Việt Nam.

Ở VN hiện nay có khá nhiều loại sữa dành cho phu nữ mang thai, nhìn chung thì tất cả đều giống nhau về thành phần giá trị dinh dưỡng, chỉ khác ở mùi vị và có hợp khẩu vị người uống hay không, giá cả thì cũng chênh lệch nhau chút ít, các sản phẩm đều là của các hãng sữa có uy tín.

Sữa bầu có đặc điểm chung là đa phần đều khó uống và có người uống thì bị đau bụng, phải chuyển sang uống loại khác đến khi tìm được loại sữa thích hợp. Nhưng mình cũng thấy có những mẹ dễ uống thì lựa chọn uống sữa của hãng nào hay có khuyến mãi và có quà tặng để tranh thủ dùng hộp/vỏ sữa đổi quà cho con :P Sữa bầu cũng khá béo, có thể làm cho mẹ tăng cân lên nhanh. Tùy từng người với cơ địa khác nhau mà sự hấp thụ năng lượng và dưỡng chất từ thức ăn sẽ "béo" mẹ hay "béo" con. Có người mẹ béo lên nhanh mà con thì không hấp thụ được mấy, như vậy là không tốt lắm cho cả mẹ và con.

3. Cá nhân mình.

Mình được một lời khuyên của một cô đã có 3 đứa cháu trai nội ngoại đều rất khỏe mạnh, thông minh và xinh trai (được chụp ảnh làm lịch nhé ^^) là nên uống sữa Similac Mom, dù khó uống cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà uống (đúng lời cô nói thế :P ). Nhưng hiện tại mình vẫn chưa mua và uống mà mình đang còn băn khoăn liệu có nhất thiết phải uống không. 

Hiện tại mình chọn sữa tươi thanh trùng của Mộc Châu và Ba Vì, loại chỉ uống trong vòng 1-2 ngày. Mình rất thích uống loại sữa này vì vị ngậy và thơm, dễ uống, không nhạt như các loại sữa tiệt trùng đóng hộp giấy. Hàng ngày ăn thêm 2 hộp sữa chua nữa.

Nguồn dinh dưỡng chủ yếu cần sữa cung cấp là Canxi, và canxi có nhiều trong sữa tươi và các sản phẩm từ sữa như phomat, sữa chua. Bữa ăn hàng ngày của mình cũng hay có món Tây nên hầu như các loại phomat mình ăn khá đều đặn. Trong thực đơn phương Tây thì mình hay thấy các loại thực phẩm sau: bánh mì, ngũ cốc, sữa tươi, phomat, khoai tây, hoa quả và rau xanh cùng với 1 vài loại thực phẩm có protein động vật khác. Mà mình thì vốn hay ăn bánh mì, rồi làm các món pasta, rùi giờ lại pizza (vậy là đủ carbohydrat và cheese rùi). Hoa quả và rau thì mình vốn ăn nhiều rùi. (trưa nay vừa nấu pasta với bacon, ớt chuông và ăn với parmesan, ngon tuyệt cú mèo ^^). Do đó, trước mắt lựa chọn của mình là uống sữa tươi thanh trùng.

Hỏi: Tôi năm nay 27 tuổi, có thai lần đầu tiên được 3 tháng. Tôi đã đi khám, bác sĩ bảo thai nhi phát triển bình thường và cho tôi uống viên sắt nhưng dặn phải uống kèm vitamin C. Xin hỏi vitamin C có vai trò như thế nào, và tại sao lại phải dùng kèm khi uống sắt?
Trả lời: Vitamin C là loại vitamin tan trong nước, chủ yếu có trong thực vật (trong các rau quả tươi), có ít trong động vật. Hiện nay người ta đã tổng hợp được vitamin C và được bào chế dưới dạng thuốc viên, hỗn dịch, thuốc tiêm... Vitamin C hấp thu dễ dàng qua niêm mạc ruột non, phân bố tới hầu hết các mô, đặc biệt tuyến yên, thượng thận, não. Nó không tích lũy trong cơ thể, thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng đã chuyển hóa.

Vitamin C có vai trò rất quan trọng với cơ thể như tham gia tạo colagen và một số thành phần tạo nên các mô liên kết ở cơ, da, xương, mạch máu; tham gia vào các quá trình chuyển hóa của cơ thể như protid, lipid, glucid; tham gia vào quá trình tổng hợp một số chất như catecholamin, hormon vỏ thượng thận; tăng tạo interferon, làm giảm nhạy cảm của cơ thể với histamin, chống stress nên giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể; kết hợp với vitamin A, vitamin E chống ôxy hóa bằng cách trung hòa các gốc tự do sản sinh ra từ các phản ứng chuyển hóa, nhờ đó bảo vệ được tính toàn vẹn của màng tế bào; đặc biệt vitamin C có vai trò rất quan trọng trong việc hấp thu sắt của cơ thể, khi chúng ta uống viên sắt (ở dạng hợp chất, có hóa trị 2) nhưng chỉ sắt hóa trị 3 mới được hấp thu ở tá tràng, do đó để hấp thu được cần có quá trình chuyển từ sắt hóa trị 2 thành sắt hóa trị 3 (quá trình này xảy ra tại ruột non), mà quá trình này muốn xảy ra bắt buộc phải có sự xúc tác của vitamin C, nên nếu thiếu vitamin C sẽ gây thiếu máu do thiếu sắt, chính vì vậy bác sĩ mới khuyên bạn khi uống viên sắt cần uống kèm với vitamin C.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý nếu dùng vitamin C liều cao liên tục, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn như loét dạ dày, tá tràng; viêm bàng quang, tiêu chảy, tăng tạo sỏi thận và bệnh goute, có thể gây ra hiện tượng ức chế ngược nếu ngừng đột ngột.
Theo BS. Bạch Đằng - Sức Khoẻ & Đời Sống
 
 
Thức ăn giúp phụ nữ mang thai giảm ốm nghén và thai nhi khỏe mạnh
 
Nếu bạn ghét bất kỳ loại thức ăn hay thứ mùi nào thì hãy tránh xa. Còn để giảm thiểu cảm giác buồn nôn trong 3 tháng đầu thai nghén, hãy thử áp dụng vài trong số các cách dưới đây:

Bạn đang bị những cơn nghén hành hạ? Hãy thử áp dụng một số cách của chúng tôi

- Đừng vội rời khỏi giường. Hãy từ từ ngồi dậy và tựa lưng vào đâu đó. Nếu bạn trở dậy nhanh quá và bất ngờ, cảm giác buồn nôn có thể tăng lên.

- Luôn mang theo bên mình các loại snack như bánh biscuit, hoa quả khô... Bạn có thể nhấm nháp chút ít những loại thực phẩm này trên giường trước khi dậy từ 20 - 30 phút.

- Đừng vội bắt tay vào nấu nướng sau khi bạn vừa bị kích thích bởi một thứ mùi nào đó. Hãy nhờ mẹ chồng/mẹ giúp mình trong thời gian này.

- Chia nhỏ các bữa ăn và ăn làm nhiều lần. Hãy nhớ, dạ dày rỗng cũng làm tăng cảm giác buồn nôn. Các thực phẩm giàu protein hay cacbon hydrate giúp chống lại ốm nghén rất hiệu quả.

- Với một số trường hợp, uống bổ sung khoảng 50mg vitamin B5 mỗi ngày là một cách rất tốt. Tuy nhiên, hãy hỏi kỹ bác sĩ trước khi quyết định dùng nhé.

- Nếu bạn đang uống các loại vitamin bổ sung dành cho bà bầu, hãy thử ngừng một thời gian. Nếu tình trạng nghén ngẩm được cải thiện thì hãy tạm nghỉ cho đến khi bạn hết nghén (3 tháng đầu) rồi tiếp tục dùng lại.

- Nếu uống sắt bổ sung khiến hệ tiêu hóa của bạn “khó chịu” thì hãy đi xét nghiệm máu, xem mình có thực sự thiếu máu không. Hoặc bạn có thể lựa chọn các loại tương tự nhưng là dạng viên hoặc gộp chung với các vi chất khác....

- Bạn chỉ ăn những gì bạn cảm thấy hứng thú và thử loại bỏ các loại thực phẩm nhiều chất béo (rán), cay, nóng, chua quá... Đặc biệt hạn chế các thức ăn như các loại nộm, các loại hoa quả dầm... vào những tháng mùa hè.

- Thường xuyên uống nước vào giữa các bữa ăn chứ không phải là trong bữa ăn.

- Ăn nhạt và nên chọn các loại snack như biscuit dòn, sữa chua (giàu vitamin B, giúp giảm nghén) hay bất cứ thứ gì mà bạn thấy thèm.

- Ngửi mùi chanh tươi. Các lát chanh tươi cũng sẽ làm bạn dễ chịu trong giai đoạn nghén ngẩm. Có thể cho vào trà hoặc nước khoáng để uống thường xuyên.

- Uống trà gừng. Gừng có tác dụng ổn định dạ dày và giúp giảm buồn nôn.


Bà bầu nên dành thời gian thư giãn

- Dành thời gian thư giãn. Hãy gặp gỡ các bà mẹ tương lai khác để có thêm nhiều kinh nghiệm, chia sẻ, giúp giảm thiểu những lo lắng không đáng có.

- Dậy sớm và đi dạo ngoài sân vườn. Không khí trong lành và luyện tập nhẹ nhàng sẽ giúp cơ thể kiểm soát được tình trạng ốm nghén.

- Nên tập các bài luyện thở. Hãy hít thật sâu và cố gắng loại bỏ khỏi tâm trí cảm giác lợm cổ.

- Luôn duy trì sự bận rộn bằng cách xem tivi, giải ô chữ, chơi cờ, đọc sách, nghe nhạc... vào buổi sáng, đặc biệt là khi cảm giác buồn nôn xuất hiện.

- Thử ăn chuối vào bữa sáng. Chuối rất giàu kali và được biết đến là một trong những vi chất có khả năng “đè bẹp” cảm giác buồn nôn.

- Hãy xức dầu bạc hà vào giấy ăn hay khăn tay và hít hà nó bất kỳ lúc nào. Nó cũng có tác dụng giảm nhẹ cảm giác buồn nôn.

- Trang phục cần rộng rãi, thoáng. Những bộ quần áo bó sát, đặc biệt là ở vùng thắt lưng sẽ làm tình trạng ốm nghén tăng lên.

 
Bà bầu có nên uống trà
 
Nhiều phụ nữ tránh uống tất cả các loại thuốc trong suốt quá trình mang thai, trong đó bao gồm cả các loại nước có chứa cafein, cồn; chất nicotin và các loại thuốc kê đơn hay không. Tuy nhiên, họ lại dễ dàng uống một tách trà thảo dược hay trà xanh.

Trà xanh

Trà xanh được biết đến là một trong những loại đồ uống tăng cường sức khỏe từ thời xa xưa. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã cho thấy trà xanh không thực sự mang lại lợi ích tuyệt vời trong giai đoạn thai kỳ, thậm chí là có thể đưa tới một số tác dụng phụ không mong đợi. Dưới đây là một số lý do giải thích tại sao nên thận trọng khi uống trà xanh trong giai đoạn bầu bí.

Những lý giải về lợi ích của trà xanh đều đựa trên một thực tế là đồ uống này rất giàu chất chống ôxy hóa. Các chất chống ôxy hóa là những hợp chất có khả năng ngăn ngừa sự gây hại đối với các tế bào trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy trà xanh giúp bảo vệ cơ thể chống lại một số bệnh tật như các bệnh liên quan đến tim, huyết áp cao và một số loại ung thư.

Các nghiên cứu khác lại cho thấy uống trà xanh rất tốt cho sức khỏe răng miệng, hệ xương khỏe mạnh nhờ khả năng chống lại các vi khuẩn và các viêm nhiễm.

Tuy nhiên, bên cạnh những nghiên cứu cho thấy lợi ích tuyệt vời của trà xanh thì nhiều nghiên cứu khác lại cho thấy trà xanh có thể gây ra một số tác dụng phụ.

Một số bác sĩ băn khoăn rằng trà xanh có thể ảnh hưởng tới lượng axit folic trong cơ thể. Axit folic là một trong những vi chất tối quan trọng đối với giai đoạn bầu bí. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khi thiếu vi chất này, thai nhi rất dễ bị khiếm khuyết hệ thần kinh.

Tất nhiên, dữ liệu từ nghiên cứu này là chưa đầy đủ để mà có thể khẳng định rằng nên tránh uống trà xanh trong khi mang thai.

Hãy nhớ rằng, trà xanh cũng như các loại trà khác đều chứa cafein, một chất rất cần hạn chế trong quá trình mang thai. Mặc dù trà xanh có hàm lượng cafein thấp nhưng cũng không có nghĩa rằng có thể uống vô tư trong giai đoạn bầu bì.

Cuối cùng, trà xanh và nhiều loại trà khác thường làm cho khả năng hấp thụ sắt từ thực phẩm kém hơn. Vì thế, chỉ nên uống một lượng vừa phải trong quá trình bầu bí.

Và một lượng vừa phải ở đây là không nhiều hơn 3 - 4 tách trà xanh mỗi ngày.

Trà thảo dược

Còn với trà thảo dược thì có lẽ là nên cẩn thận.

Các loại trà thảo dược thông thường có thể rất có lợi cho quá trình mang thai và giúp làm giảm một số triệu chứng trong quá trình thai nghén. Nhiều phụ nữ phát hiện ra rằng uống một lượng trà gừng nhỏ vào buổi sáng sẽ giúp giảm buồn nôn, trong khi trà bạc hà có tác dụng tốt với chứng ợ nóng và khó tiêu. Tuy nhiên, cũng như trà xanh, chỉ nên uống vừa phải.

Theo nhận định chung, dù là trà thảo dược loại nào thì cũng cần xem thành phần tạo nên loại trà đó có đảm bảo an toàn không. Hãy đọc nhãn sản phẩm và tốt nhất là nên tránh uống những loại trà có ghi thành phần là những loại mà bạn nghi ngờ hay chưa từng nghe nói.

Một số loại thảo dược nên tránh trong khi bầu bì cũng như khi cho con bú (làm giảm lượng sữa) là cần tây, mùi tây và cây xô thơm.
Theo Thu Trang (Dân trí)
 
Chất lượng món ăn cuối kỳ thai cần đảm bảo

Giai đoạn cuối thai kỳ, thai nhi phát triển nhanh nên rất cần được bổ sung chất dinh dưỡng một cách khoa học và đầy đủ để cả mẹ và con có thể khỏe mạnh chuẩn bị cho thời kỳ "vượt cạn". Hãy tham khảo những lời khuyên dưới đây để vượt qua những tháng cuối một cách tốt nhất.

Mang thai 3 tháng cuối, thai nhi phát triển khá nhanh. Do đó, món ăn của phụ nữ mang thai phải đảm bảo chất lượng, chủng loại cần đầy đủ. Trên cơ sở của mang thai kỳ giữa mà tăng thêm lượng hấp thụ nhiệt năng, protein và axit béo cần thiết. Cung cấp đầy đủ muối vô cơ, vitamin và nước mới đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng và phát triển của thai nhi.

Mang thai kỳ cuối cần tăng thức ăn động vật như thịt gia súc, gia cầm. Ăn tim, gan nhiều hơn để bổ sung protein chất lượng cao và huyết áp sắc tố, dự phòng thiếu máu do thiếu sắt. Ăn thêm nhiều chế phẩm đậu, đỗ, sữa đậu nành, đậu phụ để bổ sung nhu cầu canxi; tăng lạc, vừng để bổ sung chất lượng axit béo cần thiết.

Mang thai trong giai đoạn cuối cùng cần hạn chế hấp thụ chất đường và chất béo, tức là giảm bớt lượng gạo, bột mỳ... để tránh không cho thai nhi phát triển quá lớn. Nếu sắp sinh nở mà thấy phù thũng chân thì cần giảm lượng muối hấp thụ.

Mang thai kỳ cuối cần đảm bảo chất lượng món ăn, đầy đủ chủng loại. Do thai nhi lớn dần, đè lên ruột dạ dày, phụ nữ mang thai thường cảm thấy tức ở bụng trên, có thể lựa chọn "ăn ít chia nhiều bữa" để đảm bảo lượng dinh dưỡng hấp thụ.
 
Chế độ ăn cho phụ nữ mang thai

Mức độ lên cân trong thời kỳ mang thai của phụ nữ khác nhau tùy theo từng người. Thông thường, phụ nữ mang thai tăng khoảng 12 - 14kg. Do đó, điều quan trọng là bạn không được ăn kiêng hoặc bỏ bữa trong thời gian mang thai - em bé của bạn lớn lên mỗi ngày và cần bạn duy trì một chế độ ăn uống cân đối, giàu dinh dưỡng.

Cách tốt nhất để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bạn và em bé là ăn nhiều loại thức ăn bổ dưỡng.

Vitamin, chất dinh dưỡng và chất khoáng

Trong thời gian mang thai, cơ thể của bạn cần bổ sung thêm các loại vitamin, chất khoáng và chất dinh dưỡng để bé tăng trưởng. Cách tốt nhất để hấp thu những vitamin này là qua chế độ ăn uống.

Sinh tố B

Sinh tố B, tức Folate, là một loại vitamin rất quan trọng cho sự phát triển của bé trong thời kỳ đầu của thai nhi vì chất này giúp ngăn chặn những dị tật bẩm sinh như bệnh nứt đốt sống. Nếu gia đình bạn có tiền sử về bệnh khuyết tật ống thần kinh thì bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Cách tốt nhất để bảo đảm bạn hấp thụ đủ axít folic là một tháng trước khi thụ thai và trong ba tháng đầu mang thai, bạn cần dùng một lượng axít folic bổ sung mỗi ngày ít nhất 400 microgram (μg).

Một điều quan trọng khác là bạn cần ăn thêm những thức ăn có thêm axít folic hoặc giàu sinh tố B tự nhiên. Những loại thực phẩm có thêm chất folic axít bao gồm một số loại ngũ cốc ăn sáng, bánh mì, nước trái cây và nước ép thực phẩm. Hãy kiểm tra phần thông tin dinh dưỡng trên bao bì để biết hàm lượng sinh tố B có trong sản phẩm.

Những thức ăn giàu sinh tố B tự nhiên bao gồm các loại rau có lá xanh như xúp lơ xanh, rau dền, rau muống và các loại rau sống, đậu xanh, các loại hạt, nước cam, một số loại trái cây, đậu xanh khô và đậu Hà Lan.

Chất sắt

Trong thời kỳ mang thai, bạn cần bổ sung thêm chất sắt. Em bé hấp thụ chất sắt từ bạn để duy trì sự sống trong vòng năm hoặc sáu tháng đầu sau khi chào đời. Bởi vậy, bạn nhất thiết phải tăng cường chất sắt trong thời gian mang thai. Hàm lượng chất sắt nên dùng hàng ngày (RDI) trong thời gian mang thai là 22mg/ngày. Một số phụ nữ có thể cần tới 27mg/ngày.

Các thực phẩm có nhiều chất sắt bao gồm: thịt nạc đỏ (chẳng hạn như thịt bò, thịt cừu), thịt vịt (đã bỏ da), thịt gia cầm, cá, các loại rau xanh như xúp lơ xanh, bắp cải và rau dền, rau muống, các loại đậu nấu chín như đậu xanh, đậu lăng, đậu tây và đậu lima.

Ăn những thực phẩm giàu vitamin C cũng sẽ giúp bạn hấp thụ chất sắt. Hãy uống một ly nước cam khi ăn các loại rau xanh hoặc thịt bò nạc. Bạn cũng cần thận trọng với chất cafein. Trà, cà phê và cola làm giảm khả năng hấp thụ chất sắt của bạn.

Canxi (chất vôi)

Canxi có vai trò tối cần thiết để giữ cho xương chắc khỏe. Trong ba tháng cuối của thời kỳ mang thai, em bé cần một lượng canxi lớn để bắt đầu tăng trưởng và phát triển xương.

Nếu bạn không hấp thụ đủ canxi trong các bữa ăn, lượng canxi cần thiết cho bé sẽ được lấy từ xương của bạn. Để ngăn chặn điều này và tránh nguy cơ bị loãng xương về sau, bạn cần hấp thụ đủ lượng canxi trong chế độ ăn uống để cung cấp cho cả bạn và em bé.

Hàm lượng canxi nên dùng hàng ngày trong thời kỳ mang thai là 840mg/ngày. Một số phụ nữ có thể cần tới 1000mg/ngày. Những sản phẩm từ sữa, chẳng hạn như sữa, pho-mát cứng và sữa chua, và sữa đậu nành có thêm canxi là những nguồn cung cấp canxi phong phú.

Chất Omega 3

Chất Omega 3 có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của hệ thần kinh trung ương, sự phát triển của não và mắt của bé trước và sau khi sinh.

Những thực phẩm giàu Omega 3 bao gồm những loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá trình, cá trích, cá trống và cá mòi. Omega 3 còn có trong thịt gà, trứng, cá ngừ đóng hộp và dầu hạt lanh.
 
An toàn vệ sinh thực phẩm khi mang thai

(Dân trí) - Thức ăn sẵn và các loại thịt gia cầm luôn ẩn chứa vi khuẩn listeria (gây sẩy thai hay sinh non hoặc trẻ sơ sinh mắc bệnh nhiễm trùng). Hải sản luôn là nơi trú ngụ lý tưởng của sán xơ mít. Vậy các bà bầu cần lưu ý những gì?

Cẩn thận với gia cầm và thức ăn sẵn


Các loại vi khuẩn họ listeria này là nguyên nhân gây ra hiện tượng sinh non và tình trạng nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh. Nó có các biểu hiện giống như cảm cúm với các triệu chứng: đau nhức, viêm họng, sốt cao. Tuy nhiên, ở một số người biểu hiện thường không rõ và vì vậy họ không biết được mình đang nhiễm bệnh. Nếu người mẹ bị mắc bệnh trong những tuần đầu mang thai, đứa trẻ sinh ra cũng có thể bị bệnh.

Các thực phẩm nên tránh:

- Bánh mì kẹp thịt và thịt chín sẵn

- Phô mai mềm

- Thịt xay sẵn hay pate

- Hải sản hun khói.

- Sữa không tiệt trùng.

- Nộm, gỏi
Không chỉ ăn mà sờ vào các thực phẩm này cũng có thể làm bạn nhiễm bệnh listeriosis. Tủ lạnh sẽ không tiêu diệt được vi khuẩn này, thậm chí còn là môi trường tốt để chúng sinh sôi, nhưng nhiệt độ cao có thể làm được điều đó. Những hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn có được những món ăn an toàn:

- Đựng từng loại thực phẩm trong các túi hay hộp chuyên dụng. Lưu ý là quá trình vận chuyển không có sự hỗ trợ của thiết bị làm lạnh sẽ làm các vi khuẩn sinh sôi rất nhanh.

- Duy trì nhiệt độ trong tủ lạnh từ 0 - 4oC.

- Luông dùng các thực phẩm “trước hạn cuối cùng” vì nếu như có sự xâm nhập của vi khuẩn thì chúng cũng chưa thể sinh sôi đến mức độ nguy hiểm.

- Tuân thủ theo chỉ dẫn về nhiệt độ khi nấu. Vì vi khuẩn listeria không thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp nên đun sôi là điều kiện cần thiết. Nếu dùng lò viba, quá trình gia nhiệt cần dần dần và nên kiểm tra công suất cũng như nhiệt độ món ăn. Luôn tuân thủ hướng dẫn về thời gian hay việc đảo thực phẩm để món ăn được chín đều.

- Món ăn cần phải nóng khi ăn.

Lưu ý: Bệnh Listeriosis rất hiếm gặp, tỉ lệ mắc chỉ khoảng 1/20.000 thai phụ nhưng một khi mắc bệnh, bạn sẽ phải dùng kháng sinh đặc trị để tránh lây sang thai nhi. Bệnh có thể phát hiện qua xét nghiệm máu và nước tiểu.

Lưu ý với hải sản

Cua hấp, cá trình nướng là những món ăn rất bổ cho thai phụ.

Với các loại gỏi hải sản, bạn cần lưu tâm: Các loại gỏi hải sản dù tươi rói cũng ẩn chứa những nguy cơ tiềm tàng bởi nó có thể bị nhiễm các động thực vật ký sinh như sán xơ mít, mà nếu ký sinh trong cơ thể, nó sẽ “cướp” sạch dưỡng chất của thai nhi. Ướp lạnh hay nấu chín có thể tiêu diệt các loại sán xơ mít. Vì thế mà các nhà hàng ở Nhật thường làm sushi từ cá đông lạnh hơn là cá tươi. Bạn cũng có thể hỏi nhà hàng để biết chính xác nguồn cá được dùng để làm sushi.

Hàu và các loài sò cũng nên hạn chế trừ khi chúng được nấu chín kỹ và được ăn ngay tại chỗ. Bởi các loại động vật có vỏ này luôn ẩn chứa các vi khuẩn và vi rút gây hại. Chúng chỉ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao.

Khi nấu hải sản tại nhà, bạn nên nấu ở nhiệt độ tối thiểu là 63oC trong 15 giây. Nếu bạn không có nhiệt kế, những hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn biết chính xác xem hải sản đã thực sự an toàn chưa:

- Đối với cá: Nên lạng mỏng từng lát thịt cá. Nấu trong 3 - 4 phút cho đến khi miếng cá rắn lại, thịt chuyển màu trắng đục.

- Các loại tôm chuyển màu đỏ sau khi gia nhiệt, thịt có màu trắng đục. Các loại sò có màu trắng sữa.

- Đối với các loại trai, hàu, khi vỏ của nó mở ra là đã chín. Loại bỏ tất cả những con vẫn đóng miệng sau khi đã gia nhiệt vừa đủ.

- Khi dùng lò viba để chế biến hải sản, hãy đảo món ăn vài lần để đảm bảo chín đều. Sau khi lấy món ăn ra khỏi lò, cần dùng nhiệt kế để xem nhiệt độ trong món ăn đã đảm bảo chưa.
 
Thức ăn dành cho các bà bầu

Trong thời kỳ mang thai, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi đặc biệt. Nó đòi hỏi người mẹ cần có một chế độ ăn uống thật hợp lý để mẹ khỏe và con cũng lớn nhanh…

Những thức ăn của các bà mẹ mang thai không chỉ quyết định sức khỏe cho mẹ mà còn rất quan trọng với sự phát triển của thai nhi. Làm thế nào để ăn đúng thực phẩm cần cho sự phát triển của bé? Điều này xin các bà mẹ hãy lưu tâm, vì không phải cứ các thức ăn bổ dưỡng thường ngày thì đều phù hợp với phụ nữ mang thai.
Các bác sĩ phụ sản phối hợp cùng các chuyên gia dinh dưỡng đã cho chúng ta những lời khuyên nên ăn gì và không nên ăn gì để giúp cho bào thai phát triển.

Các bà mẹ mang thai rất cần phải bổ sung lượng canxi để giúp trẻ phát triển, xương cứng cáp hơn cũng như để giúp mình tránh bị bệnh cao huyết áp trong thời gian mang thai. Chính vì vậy mà mỗi ngày, những phụ nữ mang thai cần uống ít nhất ba cốc sữa. Có thể là sữa tươi, sữa bột dành cho phụ nữ có bầu hoặc sữa đậu nành đặc. Nên uống từ lúc chuẩn bị mang thai, trong thời gian mang thai và cả trong thời gian cho con bú. Tuy nhiên, bạn đừng nghĩ rằng uống sữa thì thôi nước nhé, uống nhiều nước cũng sẽ làm da dẻ bạn mịn màng, chống táo bón, máu huyết lại tuần hoàn tốt hơn.

Chúng ta vẫn thường nghe các chuyên gia dinh dưỡng nhắc các bà mẹ đang mang thai nên bổ sung lượng sắt và vitamin cần thiết trong thời kỳ này, vì đây là một nguyên tố rất quan trọng tránh trường hợp sinh non, giúp bé khỏe hơn.

Ngoài ra, phụ nữ có thai không nên ăn chất béo nồng, kích thích mạnh như vậy thận của họ sẽ phải làm việc quá tải, không có lợi cho sức khỏe. Bên cạnh đó cũng phải tránh thức ăn, nước uống quá đậm đặc, chất cay nóng, tránh ăn quá béo, quá ngọt, hay quá mặn có thể dẫn đến bị mắc chứng cao huyết áp, triệu chứng chủ yếu là phù nề, và chứng đái Abumin, người nặng có thể kèm theo đau đầu, mắt hoa, chóng mặt...

Đặc biệt khi phụ nữ mang thai, lượng máu trong hệ thống tuần hoàn máu tăng rõ rệt, tim làm việc nhiều hơn, huyết mạch trong cổ tử cung, vách âm đạo và ống dẫn trứng luôn trong trạng thái dãn nở, xung huyết. Hơn nữa, chức năng nội tiết trong của phụ nữ mang thai mạnh mẽ hơn. Khi đó người ta cứ nghĩ nên tẩm bổ nhiều, đặc biệt là sử dụng những thuốc bổ như nhân sâm, lộc nhung và các thuốc bổ khác sẽ tốt cho cơ thể…Tuy nhiên, những thuốc bổ đó càng khiến cho nội tiết trong mất cân đối, phù nề, cao huyết áp, táo bón, thậm chí còn sẩy thai hoặc thai bị chết...vì thế tuyệt đối không sử dụng những loại thuốc bổ này trong thời gian mang thai.

Quan trọng hơn, các bác sĩ vẫn luôn khuyên phụ nữ mang thai nên biết sống thanh thản; sự vui buồn, lo âu hay sợ sệt quá mức sẽ tổn hại đến nội tạng của thai phụ. Ngoài việc ăn uống điều độ, trong các liệu pháp phòng bệnh ở phụ nữ mang thai còn khuyên nên giảm bớt tình dục trong thời kỳ mang thai. Và tập luyện nhẹ nhàng cũng mang lại một sức khỏe tốt cho cả bà mẹ và thai nhi.

Quỳnh Mai

(sưu tầm)
 
Chế độ thủy, hải sản cho thai phụ

Thủy, hải sản giàu axit béo omega 3, protein, sắt, canxi, rất hữu ích cho thực đơn dinh dưỡng khi mang thai. Tuy nhiên, không hẳn cứ ăn nhiều là tốt.

Cách ăn hợp lý

việc sử dụng hợp lý các loại cá chứa lượng thủy ngân thấp trong thời gian mang thai không hề ảnh hưởng đến trí tuệ của thai nhi. Đây là khẳng định thông qua nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học trường Đại học Harvad, Hoa Kỳ.

Bà bầu nên tránh những loại cá biển (chứa nhiều thủy ngân) như cá mập, cá kiếm, cá hồi… Cá ngừ có lượng thủy ngân thấp nên bạn vẫn có thể sử dụng (khoảng 1 bữa/tuần).

Tránh ăn những loại cá do người thân hay bạn bè bắt được, bạn chỉ nên mua những loại hải sản được kiểm định chất lượng tại siêu thị hay các chợ có uy tín.

Không ăn cá sống, gỏi cá, món sushi… Các loại cá chưa được nấu chín dễ bị nhiễm khuẩn E.coli và sán nên có thể gây ngộ độc.

Chỉ nên sử dụng những loại cá tươi và nấu chín kỹ trước khi sử dụng. Không nên ăn quá 350g cá/tuần (chia đều khoảng 3 bữa cá, mỗi bữa khoảng 100g).





Ảnh: GettyImages

Ngoài ra, bạn có thể ăn luân phiên với các loại thủy, hải sản khác như tôm, cua, trai, hến, ốc, sò… Một số loại thủy, hải sản giàu chất sắt, phòng chứng thiếu máu ở bà bầu: sò, tôm, cá mòi, trai…

Bà bầu không nên ăn gan (lợn, bò, gà hay các loại dầu gan cá) vì chúng chứa rất nhiều vitamin A. Một lượng lớn vitamin A từ cơ thể người mẹ có thể gây hại cho em bé.

Vì cá (tôm, cua...) cũng rất giàu chất đạm, bạn nên cân bằng hợp lý nguồn dinh dưỡng này với các loại thực phẩm khác như thịt gia súc, gia cầm. Nếu bữa cơm đã có món cá (tôm, cua...) thì bạn nên cắt giảm các món chứa thịt.

Lưu ý khi bảo quản và chế biến

Không nên mua những loại thủy, hải sản mà bao bì đã rách, hỏng, không nhìn rõ hạn sử dụng.

Không mua những loại cá (tôm, cua...) đã được chế biến sẵn và bày bán ở chợ vì chúng có thể bị nhiễm khuẩn.

Khi bạn đi siêu thị, nên chọn mua cá (tôm, cua...) sau cùng để chúng không bị hỏng vì để lâu bên ngoài.

Nên chế biến hoặc bảo quản tủ lạnh những loại thực phẩm bạn mua ngay khi về nhà. Tuyệt đối không dự trữ cá, tôm theo cách ngâm trong nước.

Lợi ích mới của thủy, hải sản

Những bà mẹ ăn cá (tôm, cua...) trong thời gian mang thai có khả năng giảm 72% hội chứng hen suyễn ở bé sau này. Bên cạnh đó, nhóm bà mẹ ăn 1-2 bữa cá (tôm, cua...) một tuần cũng có tác dụng phòng tránh được chứng chàm bội nhiễm ở bé - Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Anh quốc.
 
Các món ăn bồi bổ cho sản phụ

Thịt lợn hấp lươn là một trong những món ăn rất tốt cho người mới sinh. Lươn 250 g, thịt lợn 100 g, hành, gừng, muối, rượu vang, xì dầu vừa đủ. Làm sạch lươn, bỏ ruột, thái miếng cả lươn và thịt lợn, ướp gia vị rồi hấp, ăn cả nước và cái.

Sau khi sinh nở, phụ nữ cần được bồi bổ để bù đắp lại sức lực bị tiêu hao, kể cả phần máu mất đi. Việc bồi bổ cho người mẹ còn nhằm mục đích cung cấp dinh dưỡng cho đứa trẻ mới ra đời. Các món ăn dưới đây đáp ứng được các yêu cầu trên:

Chè trứng, táo:
Trứng gà tươi 2 quả, lạc nhân 100 g, đại táo 12 quả, đường đỏ 50 g. Luộc chín lạc, sau cho trứng gà và đường đỏ vào nấu cùng. Ăn cái uống nước canh. Mỗi ngày 1 lần, cần dùng liên tục 20 ngày.

Nước lá tía tô, hành
: Hành 50 g, lá tía tô 10 g, đường đỏ 50 g. Luộc hành và lá tía tô, sau gạn lấy nước cho đường đỏ vào uống. Uống nóng, ngày 1 lần trong một thời gian.

Nếu bị nhiệt sau sinh

Phụ nữ sau sinh bị nhiệt cần ăn kiêng các chất cay nóng như ớt, tiêu, rượu, thuốc lá, mỡ, các đồ uống lạnh và các thức ăn nóng như quế, thức ăn rán, thịt cừu… Những món ăn có tác dụng giải nhiệt là:

Canh bầu dục lợn: Bầu dục lợn 1 quả, đậu xị 15 g, hành 10 g, gạo tẻ 50 g. Bầu dục lợn làm sạch cho cùng gạo tẻ, đậu xị vào nồi nấu thành canh, thả hành vào ăn.

Canh mộc nhĩ đen, quả dâu: Mộc nhĩ đen 10 g, quả dâu 30 g, hồng táo 7 quả, cho vào nồi nấu chín làm món ăn điểm tâm hàng ngày.

Cháo thịt, đậu xị, hành: Đậu xị 10 g, hành 10 g, cho vào đun lấy nước rồi cho thịt xay vào nấu cháo ăn. Cần ăn vài tuần, hoặc thay món cho dễ ăn.

Cháo chim bồ câu, hạnh nhân: Thịt bồ câu 100 g, hạnh nhân ngọt 100 g, cho vào nấu ăn.

Nước quýt hoa hồng: Dùng nước quýt 30 g, hoa hồng 3 g. Sắc lấy nước uống trong ngày thay trà.

Tim lợn hầm muối: Tim lợn 1 quả, cho vào hầm nhỏ lửa chín nhừ nêm muối vào ăn.

Cháo cá đậu xị: Đậu xị 15 g, thịt cá chầy bạc 100 g, cùng cho vào nồi nấu ăn.

Trà dây mướp: Dây mướp 10 g, cho sắc lấy nước uống thay trà trong ngày.

Cháo lươn, nước gừng: Lươn 150 g, nước gừng 10-20 ml, cho vào gạo tẻ nấu thành cháo ăn.

Cháo rau cải dầu: Dùng 100 g cải dầu nấu với gạo tẻ thành cháo ăn.

Nếu bị băng huyết

Trong vòng 24 tiếng sau sinh, nếu như âm đạo ra máu trên 400 ml thì được coi là băng huyết, cần báo ngay cho bác sĩ. Nguyên nhân có thể là sót nhau, tử cung co kém, rách phần mềm ở âm đạo hay cổ tử cung, trở ngại chức năng đông máu. Một số món ăn có thể hỗ trợ cải thiện tình hình:

Thịt lợn, bách hợp, đương quy: Bách hợp 30 g, đương quy 9 g, thịt lợn nạc 60 g, cho cả vào nấu chín. Cần ăn 5-7 ngày.

Dấm luộc trứng gà: Dùng dấm và rượu mỗi loại một nửa cho trứng gà vào luộc, ăn trứng gà.

Lòng trắng trứng gà: Trứng gà 1 quả, đập lấy lòng trắng, cho dấm lượng tương đương lòng trắng trứng gà, cho thêm 15 g sơn tra vào nấu lên uống.

Cháo cá chép, nước hoa đậu răng ngựa: Nước hoa đậu răng ngựa 30 g, thịt cá chép 250 g, cho gạo vào nấu cháo ăn.

Cháo hoa phù dung: Hoa phù dung 15 g, sắc lấy nước, cho gạo và đường vào nấu cháo ăn.

Nếu ra sản dịch kéo dài

Chè cà đường đỏ:
Cà 2 quả thái lát, đường đỏ 50 g, cho vào nấu cùng, mỗi ngày 1 lần, ăn liên tục 7 ngày.

Nước ngó sen: Ngó sen tươi 500 g giã nát, vắt lấy nước uống ngày một lần.

Nước đậu: Đậu đen, đậu đỏ mỗi loại 200 g, cho cả 2 thứ vào rang qua, sau cho nước cùng men rượu nấu lấy nước uống, ngày uống một lần.

Nước sơn tra, lá chè: Sơn tra (táo mèo) 50 g, lá chè 6 g, đường đỏ 100 g, cho cả vào nấu cùng, lấy nước uống. Ngày uống 2 lần.

Canh trứng: Đậu phụ 2 bìa, trứng gà 2 quả, một ít đường trắng, cho tất cả vào nấu thành canh để ăn vào sáng sớm khi đói, ngày ăn một lần và ăn thường xuyên.

Nước gừng: Gừng tươi 50 g nướng cháy, đường đỏ 50 g, hai thứ nấu lấy nước uống, ngày uống 2 lần.

Canh trứng vịt:
Trứng vịt 1 quả, tô mộc 6 g, ngó sen 30 g. Cho tô mộc và ngó sen vào sắc lấy nước bỏ bã, sau cho trứng vịt đã luộc bỏ vỏ vào đun một lát, ăn trứng, uống nước canh, ngày 1 lần, ăn liền 5 ngày.

Nếu mất máu nhiều gây choáng


Sau khi sinh nếu đột nhiên thấy chóng mặt, hoa mắt, nôn mửa, có khi bất tỉnh thì đó là biểu hiện mất máu, cần báo ngay cho bác sĩ. Một số món ăn hỗ trợ làm khỏi bệnh:

Nước sâm: Hồng sâm 10 g, thái lát cho nước vào nấu uống.

Cháo a giao: A giao 15 g, gạo nếp 30 g, cho gạo nếp vào nấu thành cháo chín thì cho a giao vào, vừa đun vừa khuấy, sôi nhào lên là ăn được.

Gà hầm thuốc: Gà mái 1 con, đương quy 30 g, xuyên khung 15 g, làm sạch thịt gà cho vào hầm cùng đương quy, nấu chín, ăn thịt gà uống nước canh.

Trứng gà, rau cần: Rau cần 100 g, trứng gà 2 quả, nấu chín ăn trứng, bỏ canh.

Đậu đen, hồng hoa sắc: Đậu đen 30 g, hồng hoa 6 g, sắc lấy nước cho 60 g đường đỏ vào uống nóng.

Mộc nhĩ đen hầm: Mộc nhĩ đen, đường phèn, lượng như nhau, đem hầm nhừ, mỗi lần uống 1 thìa, ngày 2 lần.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
 
Quả chanh với phụ nữ mang thai

Chanh là loại quả quý, rất phổ biến ở nước ta. Nó có tác dụng nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày: làm gia vị, đồ uống giải khát, chữa bệnh... Đặc biệt, quả chanh còn có nhiều tác dụng đối với phụ nữ mang thai.


1. Chống nôn



Chanh cấp Vitamin C tự nhiên rất hữu hiệu. Ảnh: Corbis

Lấy 500g quả chanh tươi, gọt vỏ, bỏ hạt, thái miếng, trộn đều với đường hoặc mật ong, ướp trong khoảng một ngày, sau đó đun nhỏ lửa cho tới khi cạn nước, để nguội, cho thêm chút đường trắng vào. Đổ tất cả vào lọ thuỷ tinh, dùng dần. Khi có cảm giác buồn nôn thì xúc 1- 2 thìa canh để ăn rất tốt.

2. An thai

Thai phụ thường xuyên ăn chanh vắt vào nước canh hoặc pha nước uống giải khát có tác dụng hoà vị, lý khí, an thai rất tốt.

3. Tăng cường thể chất

Phụ nữ mang thường có triệu chứng mệt mỏi. Chanh là một trong những loại quả giúp tăng cường thể chất, giúp cơ thể chống lại sự mệt mỏi bằng những cách sau:

Cách 1: 20ml nước chanh vắt, 15g đường gluco, 30ml rượu whisky. Tất cả trộn đều, hoà vào một cốc nước sôi để nguội để uống.

Cách 2: 20ml nước chanh vắt, 10ml dầu gan cá, 10g sữa đã tách béo, pha tất cả với ½ cốc nước sôi nguội để uống.

4. Bổ sung Vitamin C

Uống nước chanh hàng ngày là nguồn cung cấp Vitamin C tự nhiên rất hữu hiệu. Các bà mẹ mang thai nên cố gắng uống đều đặn để bổ sung Vitamin C cho cơ thể.

5. Làn da khoẻ, đẹp

Phụ nữ trong giai đoạn mang thi dễ bị nổi mụn nám, tàn nhang. Chúng ta có thể dùng 20ml nước chanh vắt, 100g dưa bở (đã bỏ vỏ và hạt), ép lấy nước, trộn đều tất cả với một chút đường trắng để ăn. Loại thức ăn này giúp làm mờ những nốt tàn nhang và các sắc tố đen trên da mặt, giúp da sáng và khoẻ đẹp.

Theo DânTrí
 
 3 món cho người nghén

Những món ăn được nêm nhạt, ít gia vị, hạn chế chiên xào và thêm chút gừng sẽ giúp thai phụ dễ ăn và bớt nghén hơn.

Tôm nấu riêu



Nguyên liệu: 250 g tôm tươi, 2 quả cà chua chín, 1/2 thìa soup lá thìa là cắt khúc, 1 thìa cà phê hành lá cắt khúc, 1/2 thìa cà phê gừng băm, 1 thìa cà phê hành lá băm, 2 thìa cà phê dầu ăn, 1 thìa cà phê hạt nêm, 1/3 thìa cà phê đường.

Cách làm: Tôm lột vỏ, bỏ đầu đuôi. Cà chua cắt múi cau. Phi thơm hành và gừng với dầu ăn. Cho cà vào xào đến khi lên màu, trút 1 bát nước nhỏ vào, nêm hạt nêm và đường. Khi nước sôi cho tôm vào nấu khoảng 2 phút, cho hành và thìa là vào, tắt bếp.

Canh nấm thịt bò



Nguyên liệu: 100 g nấm bào ngư, 100 g thịt bò mềm, 1/2 củ cà rốt, 200 ml nước dùng, 1 thìa cà phê hành phi băm, 1/3 thìa cà phê muối iốt, 1/4 thìa cà phê tiêu, 1 thìa cà phê dầu ăn, 1/2 thìa cà phê gừng sắt sợi, hành ngò xắt nhuyễn.

Cách làm: Nấm cắt gốc, ngâm nước muối rửa sạch. Thịt bò xắt mỏng, ướp thịt bò với hành tím, tiêu, dầu ăn. Cà rốt tỉa hoa xắt mỏng. Nấu sôi nước dùng, cho cà rốt và gừng vào nấu. Cà rốt vừa mềm cho tiếp nấm, thịt bò vào, nêm muối vừa ăn. Chờ sôi lại tắt bếp, rắc hành ngò, dùng nóng.

Soup tôm vị gừng



Nguyên liệu: 250 g tôm tươi, 250 ml nước dùng, 1 củ nhỏ gừng, 1/2 thìa cà phê hạt nêm, 1/5 thìa cà phê tiêu, 1 thìa cà phê bột năng, 1/2 thìa cà phê tỏi phi, ngò xắt nhuyễn

Cách làm: Tôm lột vỏ bỏ đầu đuôi. Gừng gọt vỏ, một nửa đập giập, nửa còn lại xắt chỉ. Đặt nước dùng lên bếp, cho 2 thứ gừng vào nấu cùng, khi nước sôi cho hạt nêm và tôm vào. Khuấy bột năng với ít nước lạnh cho vào nước đang sôi. Chờ soup sôi lại, múc vào chén, rắc tiêu, ngò và tỏi phi trên mặt, dùng nóng.

Theo Món ngon/VNE
 
Ăn cá an toàn khi mang bầu

Từ lâu bạn đã biết ăn cá rất tốt trong khi mang thai. Tuy nhiên, nếu kém hiểu biết, ăn cá không đúng cách sẽ đi ngược lại lợi ích vốn có của nó. Vậy ăn cá như thế nào là tốt nhất đối với thai phụ?


Ăn cá an toàn

Trong cá có chứa một lượng lớn protein và sắt rất tốt cho sự phát triển của thai nhi. Ngoài ra chất béo có lợi Omega-3 trong nhiều loại cá giúp kích thích não bé phát triển.

Nhìn chung các loại cá đều đem lại ích lợi cho mẹ và bé, tuy nhiên bạn cần đặc biệt lưu ý không nên ăn một số loại cá có chứa hàm lượng thủy ngân như cá trê, cá hồi, cá ngừ Folinia, cá polắc. Viện Dinh dưỡng Hoa Kỳ khuyến cáo để an toàn cho mẹ và bé, các bà bầu chỉ nên ăn dưới 300g các loại thủy hải sản trong một tuần.

Các thai phụ chỉ nên ăn cá đã nấu chín kỹ, không ăn các món cá chưa kỹ như gỏi cá, rất dễ bị các loại virus và vi khuẩn xâm hại. Và nên nhớ đó là những loại cá phải được nuôi từ nguồn nước sạch, không bị nhiễm độc, cá còn tươi, không ăn những loại cá đã chết từ lâu và ươn.

Dầu cá có an toàn như cá tươi và cá đông lạnh?

Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2006 bởi các chuyên gia, giáo sư Hoa Kỳ đã cho thấy những bà mẹ đã từng sử dụng viên dầu cá trong quá trình mang thai, sẽ sinh ra những đứa con có đôi mắt sáng hơn so với những trẻ khác.

Tuy nhiên, về liều lượng sử dụng bạn cần tham khảo thêm ý kiến bác sĩ. Nếu không dám chắc cá mà bạn sử dụng có an toàn không nên sử dụng dầu cá để thay thế.
 
Ăn hải sản và cá khi mang thai giúp trẻ thông minh

Những thai phụ phụ ăn nhiều hải sản khi mang thai sẽ sinh ra những đứa trẻ có chỉ số thông minh IQ cao. Đây là nghiên cứu mới nhất vừa được công bố. Kết quả nghiên cứu càng giúp khẳng định quan niệm cá hay hải sản là "thức ăn" của não khi còn là bào thai.

Các kết quả nghiên cứu khá bất ngờ và mâu thuẫn với những lời khuyên của các nhà khoa học Mỹ và Anh rằng phụ nữ có thai nên hạn chế ăn hải sản và cá để tránh mức độ thuỷ ngân cao.

Ảnh: images

Thuỷ ngân được tìm thấy có một lượng nhỏ trong cá và hải sản nhưng có thể tích luỹ trong cơ thể. Một lượng lớn kim loại này có thể huỷ hoại hệ thần kinh của con người, đặc biệt ở những bào thai đang phát triển. Mặt khác, hải sản bao gồm cả cá cũng là nguồn thực phẩm chính cung cấp các axit béo Omega-3 rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ.

Trong khi các chuyên gia tin rằng cần có các nghiên cứu sâu hơn để xác định những kết luận này thì sự thất bại của việc nghiên cứu để tìm ra chứng cứ của sự nguy hại khi ăn cá là vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, hải sản chứa cả các chất dinh dưỡng và độc tố, nó tồn tại như một song đề trong việc tìm ra lời khuyên nào là đúng cho các phụ nữ mang thai.

Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo sư Joseph Hibbeln ở Viện sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ bằng cách theo dõi thói quen ăn uống của 11.875 phụ nữ mang thai ở Bristol, Anh.

Suốt 32 tuần mang thai, các phụ nữ này được yêu cầu trả lời các câu hỏi về việc tiêu thụ hải sản của mình. Trong quá trình mang thai, họ có 4 lần trả lời bảng câu hỏi điều tra và được theo dõi tiếp 8 năm sau khi sản phụ sinh em bé. Các nhà nghiên cứu kiểm tra những vấn đề bao gồm kỹ năng giao tiếp, quan hệ xã hội, sự kết hợp giữa tay và mắt cùng với chỉ số IQ của những đứa con do các bà mẹ trong diện điều tra sinh ra.

Tuy nhiên, với bất kỳ nghiên cứu nào dựa trên những phương pháp tự báo cáo như vậy thì kết quả cũng không thể hoàn toàn được công nhận.

Ngân sách dành cho nghiên cứu này chủ yếu được hiệp hội nghiên cứu y học Anh, Công ty Wellcome Trust, đại học Bristol và chính phủ Anh cung cấp.

Hibblen và những cộng sự của ông đã kết luận rằng những phụ nữ ăn hơn 340g hải sản hay cá mỗi tuần tương đương với 2-3lần/1 tuần đều có những đứa con thông minh hơn với các kỹ năng phát triển tốt hơn. Những đứa trẻ mà mẹ chúng không ăn hải sản thì 48% dường như có chỉ số IQ thấp so với những đứa trẻ có mẹ ăn nhiều hải sản khi mang thai.

Hibblen gợi ý việc ăn nhiều hơn 3 lần cá hay hải sản 1 tuần có thể mang lại lợi ích cao. Ông và các đồng nghiệp của mình đã viết: “Lời khuyên hạn chế tiêu thụ hải sản có thể làm suy giảm lượng dưỡng chất cần thiết phải cung cấp cho sự phát triển thần kinh thai nhi ở điều kiện tốt nhất”.

Các giáo sư Gary Myers và Philip Davidson của Trường đại học Y khoa Rochester - hai người không hề tham gia vào đề tài nghiên cứu của Hibblen cũng đã có lời phát biểu trong một bài bình luận như sau: “Những kết quả nghiên cứu trên đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc bổ sung cá vào chế độ ăn của các thai phụ và góp phần hỗ trợ thêm cho ý kiến phổ biến rằng cá là “thức ăn” của não”
 
Ăn uống lành mạnh trong thời kỳ mang thai

Mọi người đều cho rằng ăn uống lành mạnh sẽ tốt cho cơ thể chúng ta và điều đó càng quan trọng hơn nhiều đối với phụ nữ mang thai. Ngay cả khi trước đó bạn chưa từng theo một chế độ ăn lành mạnh đặc biệt nào thì từ nay bạn vẫn có thể có một thời kỳ mang thai khỏe mạnh hơn với một vài sự thay đổi tích cực trong thói quen ăn uống của mình.


Tôi nên ăn những loại thức ăn nào?

Trong suốt thời kỳ mang thai, thai nhi nhận mọi chất dinh dưỡng cần thiết từ bạn để phát triển và lớn lên. Vì thế, để đảm bảo bạn và em bé của bạn khỏe mạnh trong giai đoạn hứng khởi này, điều quan trọng là bạn phải có chế độ ăn lành mạnh và cân bằng.

Các lời khuyên tốt nhất để có một chế độ ăn uống lành mạnh

• Hãy chọn nhiều thức ăn từ các nhóm thức ăn khác nhau để đảm bảo bữa ăn của bạn được cân bằng.

• Hãy hỏi nữ hộ sinh hay bác sĩ của bạn về các dưỡng chất bổ sung nếu bạn lo lắng mình
ăn thiếu một nhóm thực phẩm nào đó.

• Hãy ăn 3 bữa chính và từ 2 đến 3 bữa phụ mỗi ngày.

• Bổ sung trái cây, rau, ngũ cốc nguyên hạt và đậu để tăng lượng chất xơ hấp thụ cho bạn.

• Uống nước thường xuyên, ít nhất 8 ly nước mỗi ngày.

• Bổ sung cả những thức uống khác như sữa không béo, nước ép trái cây tươi và súp.

• Hãy ăn một suất cá mỡ và một suất cá trắng mỗi tuần (nhưng phải tránh cá mập, cá kiếm).

• Hãy dùng dầu thực vật như bắp, ô liu và hướng dương khi nấu ăn, nhưng chỉ sử dụng một ít thôi.

• Hạn chế ăn thức ăn chế biến sẵn và bảo quản lâu vì các thức ăn này thường chứa nhiều muối.

• Hãy giảm dưới 3 ly cà phê và 6 tách trà mỗi ngày.

• Hãy hạn chế ăn ngọt, khoai tây chiên, bánh nướng, bánh bích quy, mỡ, dầu và đường. Tất cả các thứ này đều cung cấp thêm calo nhưng ít giá trị dinh dưỡng cho bạn và em bé của bạn. Ăn thỏa thích sẽ khiến sau này bạn khó lấy lại được thân hình trước khi có thai. Vì vậy, đừng tìm đến lọ bánh quy quá thường xuyên nhé bạn!
 
Có nên uống dầu cá khi mang thai?
 
Khi bà mẹ mang thai, rất cần được bổ sung các loại vitaminkhoáng chất để giúp cho bà mẹ khỏe mạnh, thai nhi phát triển tốt. Hầu hết nhu cầu về các vitamin và khoáng chất ở bà mẹ mang thai đều tăng lên so với trước mang thai, chỉ riêng vitamin A thì lại không cần tăng lên, mà thậm chí nếu dùng quá liều còn gây nguy hiểm.

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nếu bà mẹ dùng vitamin A quá liều có thể gây dị dạng thai nhi hoặc gây đẻ khó do rối loạn cơn co. Vì vậy việc uống dầu cá hằng ngày khi mang thai là không cần thiết, tuy hàm lượng vitamin A trong dầu cá không cao lắm, có thể uống 1 – 2 viên/ngày. Nhưng vitamin A là loại tan trong dầu khi thừa không thải trừ ra khỏi cơ thể hàng ngày như các loại vitamin tan trong nước, mà lại tích luỹ trong gan nên dùng thời gian dài có thể gây ngộ độc. Hơn nữa vitamin A rất sẵn có trong thực phẩm như: gan động vật, trứng, sữa... và dạng tiền vitamin A là beta caroten có rất nhiều trong các loại củ quả có màu vàng, đỏ: cà rốt, đu đủ, gấc, chuối..., các loại rau xanh thẫm: rau ngót, rau muống, rau khoai lang, mồng tơi... Vì vậy phụ nữ mang thai chỉ cần ăn nhiều các thực phẩm này hàng ngày thì cũng cung cấp đủ vitamin A rồi. Hơn nữa, ăn uống đầy đủ còn cung cấp nhiều các vitamin và khoáng chất khác nữa. Sau khi sinh nếu sản phụ ăn uống không được nhiều thì có thể bổ sung một liều vitamin A 200.000UI, hoặc uống viên dầu cá hàng ngày, mỗi ngày 1 – 2 viên trong thời gian nuôi con bú.


Thực đơn tết cho phụ nữ mang thai

Một thực đơn ngày tết cho thai phụ vừa dễ chế biến, ăn ngon miệng mà còn cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng cho cả mẹ và con, rất giản tiện mà chất lượng lại kỳ diệu đến tuyệt vời.

Cá quả chưng tương
Nguyên liệu gồm: cá quả (cá lóc) 1.000g, đậu tương hạt 50g, gừng củ tươi nửa củ, đường 1 thìa cà phê, dầu ăn, hành lá lượng vừa đủ chế biến.
Cách chế biến, sử dụng: cá lóc xát muối làm sạch, gừng gọt bỏ vỏ thái sợi, tương hạt pha với nước đường, tất cả cho vào hấp cách thủy chừng 30 phút, cho hành lá phi với dầu ăn lên trên, mang ra ăn với cơm. Đây là món ăn khá hấp dẫn, món cá lóc chưng tương vừa thơm ngon lại bổ dưỡng. Trong món này, cá lóc vừa giàu đạm, ít mỡ lại phối hợp với đậu tương làm tăng hứng thú ăn cho thai phụ. Là loại đậu chứa nhiều albumin, leucithin, sắt, canxi, vitamin B1, B2, acidnicotic... nếu thường xuyên ăn đậu tương hay uống sữa đậu nành hằng ngày sẽ làm cho da dẻ nõn nà, tinh lực dồi dào, hình thể khỏe, đẹp.

Cocktail dâu
Nguyên liệu gồm: yaourt 2 hủ, ổi chín 2 quả, cam 1 quả, dâu đỏ 5 quả, nho 10 quả.
Cách chế biến, sử dụng: rửa sạch, gọt bỏ vỏ ổi, thái miếng; cam, nho, bóc bỏ vỏ và hạt; dâu đỏ rửa sạch để ráo nước. Sau cùng cho ổi, cam, nho, dâu trộn đều cùng yaourt cho vào tủ lạnh hoặc có thể ăn ngay cũng được. Đây là món ăn vừa ngon mát, bồi bổ cơ thể bởi nhiều thành phần hợp lại như: thịt quả nho có thể dưỡng thân, tăng sức khỏe, bổ máu, trợ tim, lợi tiểu, có thể trị đau lưng, trợ - trị đau dạ dày, huyết hư, tim nhịp nhanh, mạnh...

Người ta còn lấy quả nho 20g, sắc uống 2 lần trong ngày để trị phụ nữ mang thai bị tức ngực, đứng ngồi không yên. Còn ổi giàu vitamin C giúp tăng cường sức đề kháng. Đặc biệt lại có quả dâu bổ gan, thận nên người ta đã sử dụng ăn quả dâu để trị bệnh gan, thận mãn tính, chống táo bón...

Còn cam là loại giàu vitamin C chống các phần tử gốc tự do, chống oxy hóa, lại tác dụng kiện tỳ, hòa vị, ấm phổi, trị ho, tẩm bổ cơ thể... Yaourt cũng là thứ bổ dưỡng có tác dụng bồi bổ cơ thể.

Thịt lợn sốt cam
Nguyên liệu gồm: cam 1 quả, thịt lợn nạc thăn 200g, bột ngô 10g, cùng nõn hành lá ta, đường, nước mắm, dầu ăn vừa đủ.
Cách chế biến, sử dụng: cam rửa sạch để ráo nước, cắt ngang quả vắt kiệt nước, gạt bỏ hết hạt. Thịt nạc thăn có thể thái sợi hay thái miếng mỏng rồi ướp cùng chút nước mắm và nõn hành cắt khúc, chút đường. Khi bắc chảo lên bếp nổi lửa to, chảo nóng đổ dầu rán vào, cho nõn hành đã cắt khúc phi thơm thì thả thịt nạc thăn đã thái vào chảo đảo đều nhanh tay, rồi cho ra đĩa. Còn bột ngô cho vào nửa bát nước ăn cơm, thêm ít đường và nước mắm. Sau đó lại phi thơm nõn hành với dầu ăn và cho nước bột ngô, khuấy đều vào chảo, đảo nhanh tay bột ngô khoảng 2 phút thì bắc xuống, pha nước cam đã vắt sẵn.

Khi ăn rưới thêm nước thịt. Trong món ăn này ta thấy có thịt lợn nạc thăn là loại thịt ngon, mềm và có độ đạm cao lại lành tính và có tính lạnh, vị mặn đi vào can, thận. Còn cam cũng là món ăn bổ dưỡng có vị ngọt, chua, chứa nhiều vitamin C có tác dụng làm tăng cường sức đề kháng của hệ miễn dịch trong cơ thể... Bột ngô cũng có vị ngọt, tính bình, tăng cường khả năng tiêu hóa cho dạ dày, ruột, lợi thủy, ngô rất giàu dinh dưỡng như đạm (chiếm từ 7-12%) và chứa nhiều vitamin hơn cả gạo, đặc biệt là vitamin E, vitamin nhóm B (B1, B2, B6) có lợi cho phụ nữ đang mang thai, chất lysine chiếm từ 1,8-4,45mg, triptophan 0,4- 1,0%... Hoặc hành cũng là vị thuốc có tính ấm, vị cay, thông dương, lợi khí…

Giò nóng khía mè đen
Nguyên liệu gồm: thịt giò lợn 100g, mè đen (vừng đen, hắc chi ma), nấm tuyết 2 tai, bún tàu 1 lọn, nước mắm và đường trắng mỗi thứ nửa thìa cà phê, cùng với hành lá, tỏi, dầu ăn vừa đủ.
Cách chế biến, sử dụng: giò lợn (chân giò lợn) rửa sạch cho ướp với nước mắm, đường, hành lá cắt khúc, xắt nhuyễn. Nấm tuyết, bún tàu ngâm nước cho nở mềm. Bắc bếp đặt chảo chờ nóng cho dầu ăn vào phi thơm hành, tỏi. Sau đó, cho giò lợn cùng mè đen vào chiên vàng. Đổ ngập nước, hạ lửa nhỏ riu riu trong khoảng 30 phút thì cho nấm tuyết và bún tàu vào. Tắt bếp, bắc ra ăn nóng rất thơm ngon.

Đây là món ăn khá tuyệt và rất giàu dinh dưỡng. Mặt khác lại có vị mè đen hợp cùng là loại có vị ngọt, tính bình, vào kinh can, thận. Trong mè đen có protein chiếm từ 20-22% cùng nhiều khoáng chất, các yếu tố vi lượng, vitamin E, acid folic, vitamin PP, chất leucithin… lại tác dụng bổ ích tinh huyết, nhuận táo, hoạt trường, giảm kích thích, chống viêm... thì thật là phù hợp cho người đang mang thai. Ngoài ra, nấm tuyết cũng có vị ngọt, tính bình, tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch trong cơ thể, phòng trị bệnh ung thư...

Gà hầm tam thất
Nguyên liệu gồm: thịt gà 200g, tam thất 4g, câu kỷ tử 3g, táo tàu 3 quả, gừng sống 1 củ, cùng các vị muối, tiêu, nước dùng vừa đủ.
Cách chế biến, sử dụng: rửa sạch thịt gà, ướp cùng tiêu, muối. Gừng gọt bỏ vỏ ngoài, thái sợi. Táo tàu, tam thất, câu kỷ tử rửa sạch. Sau đó lót cho gừng, tam thất, câu kỷ tử dưới đáy thố, đặt gà lên trên, đổ nước dùng ngập gà, cho vào nồi đổ vừa nước hấp cách thủy, đun nhỏ lửa trong 2 tiếng là được. Mang thố ra ăn cả cái, uống nước.

Xét các vị chính chứa trong món ăn này ta thấy, vị tam thất, bộ phận dược dụng là rễ củ khô, có tính ấm, vị ngọt hơi đắng, đi vào can, vị. Công năng của thuốc có thể thay nhân sâm (là loại đại bổ nguyên khí), còn dùng trong trường hợp chảy máu do thương tích ứ huyết, sưng đau, phụ nữ sau sinh bị xây xẩm chóng mặt (bổ khí huyết)... Còn thịt gà là loại giàu đạm (thịt gà nạc chiếm 25% đạm), song thịt gà có tính ấm, vị ngọt, công năng bổ hư ấm trong, trị mệt mỏi lâu ngày. Câu kỷ tử bộ phận dược dụng là quả chín phơi khô, tính bình, vị ngọt, vào phế, can, thận, được sử dụng trong can, thận, âm hư, chân tay mỏi mệt... Vị táo tàu còn gọi là táo đen, táo đỏ, phần dược dụng là cùi thịt quả táo chín phơi khô hoặc sấy khô, có tác dụng tẩm bổ. Táo tàu tính ấm, vị ngọt, có công năng bổ tỳ, vị, nhuận tâm phế, điều hòa dinh vệ, lại hòa được cùng với bách dược... Hay gừng tươi, tính ấm, vị cay vào phế, vị, trị ngộ độc, đầy bụng...

Theo BS. Hoàng Xuân Đại
Sức khỏe & Đời sống
 
Bảng tổng hợp các chất dinh dưỡng

Nếu phụ nữ đang mang thai mà bị suy dinh dưỡng thì không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ, mà còn ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và phát triển của thai nhi, vì giữa người mẹ và thai nhi có mối liên kết hữu cơ với nhau thật chặt chẽ.
Hàm lượng canxi trong 100g thực phẩm ăn được
STT TÊN THỰC PHẨM CANXI(mg)
1 Mộc nhĩ 357
2 Rau giền cơm 341
3 Cần tây 325
4 Rau răm 316
5 Cần ta 310
6 Rau giền đỏ 288
7 Rau giền trắng 288
8 Lá lốt 260
9 Rau kinh giới 246
10 Dọc củ cải 220
11 Rau húng 202
12 Thìa là 200
13 Tía tô 190
14 Nấm hương khô 184
15 Rau đay 182
16 Rau rút 180
17 Rau mồng tơi 176
18 Rau thơm 170
19 Rau ngót 169
20 Đậu tương (đậu nành) 165
21 Đậu trắng hạt 160
22 Rau bí 100
23 Rau muống 100

Các thực phẩm giàu canxi - Thức ăn động vật
STT TÊN THỰC PHẨM CANXI(mg)
1 Cua đồng 5040
2 Rạm tươi 3520
3 Tép khô 2000
4 Ốc đá 1660
5 Sữa bột tách béo 1400
6 Ốc nhồi 1357
7 Ốc vặn 1356
8 Ốc bươu 1310
9 Tôm đồng 1120
10 Sữa bột toàn phần 939
11 Tép gạo 910
12 Pho mát 760
13 Trai 668
14 Mắm tôm loan 645
15 Cá dầu 527
16 Nước mắm cá(loại đặc biệt) 386,7
17 Nước mắm cá loại 1 386,7
18 Nước mắm cá loại 2 313,8
19 Sữa đặc có đường 307,0
20 Tôm khô 236
21 Lòng đỏ trứng vịt 146
22 Hến 144
23 Sữa chua vớt béo 143
24 Lòng đỏ trứng gà 134
25 Cá khô (chim, thu, nụ, dé) 120
26 Sữa bò tươi 120
27 Sữa chua 120
28 Các trạch 108,9
 
Các thực phẩm giàu kẽm

Hàm lượng kẽm trong 100g thực phẩm ăn được
STT TÊN THỰC PHẨM KẼM(mg)
1 Sò 13,40
2 Củ cải 11,00
3 Cùi dừa già 5,00
4 Đậu Hà Lan 4,00
5 Đậu tương (đậu nành) 3,80
6 Lòng đỏ trứng gà 3,70
7 Thịt cừu 2,90
8 Bột mì 2,50
9 Thịt lợn nạc 2,50
10 Ổi 2,40
11 Gạo nếp giã 2,30
12 Gạo nếp máy 2,20
13 Thịt bò loại 1 2,20
14 Khoai lang 2,00
15 Gạo tẻ giã 1,90
16 Lạc hạt 1,90
17 Gạo tẻ máy 1,50
18 Kê 1,50
19 Thịt gà ta 1,50
20 Rau ngổ 1,48
 
Các thực phẩm giàu sắt - Thức ăn thực vật
Hàm lượng sắt trong 100g thực phẩm ăn được
STT TÊN THỰC PHẨM SẮT(mg)
1 Mộc nhĩ 51,6
2 Nấm hương khô 35,0
3 Cùi dừa già 30,0
4 Đậu tương (đậu nành) 11,0
5 Vừng (Đen, trắng) 10,0
6 Cần tây 8,00
7 Rau đay 7,70
8 Đậu trắng hạt (đậu tây) 6,80
9 Đậu đũa (hạt) 6,50
10 Hạt sen khô 6,40
11 Đậu đen (hạt) 6,10
12 Rau giền trắng 6,10
13 Rau rền đỏ 5,40
14 Đậu xanh 4,80
15 Rau hung 4,80
16 Rau mùi 4,50
17 Đậu Hà Lan (hạt) 4,40
18 Ớt vàng to 3,60
19 Cần ta 3,00
20 Củ cải 2,90
21 Rau mùi tàu 2,90
22 Rau khoai lang 2,70
23 Rau ngót 2,70
24 Đu đủ chín 2,60
25 Rau răm 2,20
26 Rau bí 2,10
27 Tỏi tây 2,00
28 Cải xanh 1,90
29 Cải xoong 1,60
30 Đậu đũa 1,60
31 Rau mồng tơi 1,60
32 Rau sen tươi 1,40
33 Rau muống 1,40
 
Chế độ dinh dưỡng cho sản phụ

Qua quá trình mang thai và sinh nở, sự tiêu hao sức khoẻ và năng lượng của sản phụ là rất lớn, vì vậy trong thời kỳ mang thai cũng như thời kỳ nghỉ đẻ, việc chăm sóc ăn uống cho sản phụ là điều không thể xem thường, một là bổ sung sự tiêu hao năng lượng, hai là bổ sung đủ dinh dưỡng cần thiết để người mẹ tiết ra đủ sữa nuôi con. Do vậy chế độ ăn uống của sản phụ phải đáp ứng được cả 2 yêu cầu trên.
Sau đây là một số nguyên tắc để sản phụ tham khảo:

- Ăn nhiều thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là thức ăn có chứa nhiều protein, canxi, sắt như: thịt bò, trứng, sữa, gan và thận động vật; các sản phẩm từ đậu có thể nấu canh với xương heo, giò heo là những thức ăn có hàm lượng canxi rất cao.

- Phối hợp ăn uống hợp lý. Dinh dưỡng của sản phụ phải toàn diện, không thể ăn theo ý thích của mình, cũng không phải ăn nhiều quá một loại thực phẩm. Trong các bữa ăn chính phải có thức ăn thô như cơm, bắp, tiểu mạch, khoai để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Ngoài ra, trái cây, rau cải cũng rất có ích cho sản phụ nhằm cung cấp đủ vitamin và thúc đẩy vú tiết sữa bình thường. Vì vậy nên tập thói quen ăn trái cây sau mỗi bữa ăn, các loại như táo, quít, lê v.v...

- Ăn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa và ít kích thích; tránh táo bón vì nếu để táo bón lâu ngày sẽ dẫn đến trĩ, nứt kẽ hậu môn, sa tử cung.

- Không kiêng cữ một cách quá mù quáng. Thời kỳ cho con bú, dinh dưỡng phải đủ về mọi mặt mới đáp ứng nhu cầu của bản thân và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và em bé.

- Ăn uống hợp vệ sinh. 5-7 ngày sau khi sinh nên ăn những thức ăn mềm như cơm nát, cháo; không nên ăn quá nhiều dầu mỡ như thịt gà (có da), giò heo... Sau 7 ngày có thể ăn các món như cá, thịt, trứng gà nhưng không nên ăn quá no trong vòng một tháng sau khi sinh mà nên ăn làm nhiều bữa trong ngày.

- Không nên ăn những thức ăn cay nóng vì dễ làm cho sản phụ bốc hoả và có thể ảnh hưởng đến trẻ qua sữa, làm cho trẻ bị nóng trong người. Vì vậy tránh ăn hành, ớt, hồi hương, hẹ, rượu...

- Cũng không nên ăn thức ăn sống, lạnh vì dễ làm tổn thương dạ dày, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hoá. Ngoài ra, thức ăn sống lạnh dễ tạo máu bầm làm đau bụng sau khi sinh.

- Ngoài 3 bữa chính, sản phụ nên ăn nhiều bữa phụ với các loại thực phẩm dễ tiêu như mì, hoành thánh, cháo để tăng lượng sữa.

Trên cơ sở các nguyên tắc đó bạn có thể lựa chọn các loại thực đơn phù hợp cho mình nhằm đảm bảo sự hồi phục sức khoẻ sau khi sinh và chất lượng sữa cho trẻ tốt nhất.
 
Làm việc trong thời kỳ mang thai!

Hầu hết phụ nữ đều vẫn tiếp tục đi làm trong thời kỳ mang thai cho đến gần ngày sinh nở. Vì thế, điều này sẽ gây nhiều trở ngại đến công việc của họ cũng như sẽ có thể ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.

Dưới đây là vài lời khuyên giúp bạn giảm bớt những khó chịu thường thấy trong thời kỳ mang thai để làm việc có hiệu quả hơn. Khắc phục cơn ốm nghén

Nghén là triệu chứng vẫn thường gặp ở thời kì đầu mang thai, và trong thời gian này bạn sẽ luôn cảm thấy đầy bụng, buồn nôn bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Dưới đây là một vài cách giúp biến mất cảm giác khó chịu đó:

Tránh sử dụng các loại thức ăn lạ: Người mang thai thường rất kén chọn trong ăn uống và đặc biệt dị ứng với các mùi chiên, xào của thức ăn. Vì vậy bạn cần tránh sử dụng các món chiên, xào và các loại thức ăn lạ có thể làm tăng cảm giác buồn nôn.

Ăn đồ ăn nhẹ: Để đối phó với cơn ốm nghén bạn có thể ăn một ít bánh quy dòn, cứng, kẹo chanh, trà gừng… Vì vậy phải luôn để sẵn một vài loại bánh kẹo như vậy nơi bạn làm việc.

Uống nhiều nước: Nếu cơ thể các thai phụ thiếu nước thì càng dễ buồn nôn hơn. Bởi vậy nên để chai nước nơi làm việc và uống liên tục trong ngày.

Giảm bớt cường độ làm việc : Trong thời gian mang bầu thì cường độ làm việc của bạn nên chậm hơn so với trước đây. Bạn nên nói chuyện thẳng thắn với sếp cũng như đồng nghiệp để họ hiểu hoàn cảnh của bạn.

Ngủ đủ giấc: Với bất kỳ người bình thường nào thì việc thiếu ngủ cũng gây cho họ cảm giác mệt mỏi. Với thai phụ điều này có thể có tác hại gấp đôi vì thế thai phụ cần chú ý ngủ đủ và sâu để đảm bảo sức khỏe.

Giảm cảm giác mệt mỏi

Khi mang thai đã khiến cơ thể bạn yếu và có cảm giác mệt mỏi hơn mọi người vì thế để bạn vẫn có thể làm việc tốt mà vẫn cảm thấy khỏe khoắn hãy tuân thủ một số quy tắc sau:

Thường xuyên có giờ giải lao ngắn: Để có thêm sinh lực và hăng say hơn nữa trong công việc bạn hãy dành một vài phút đứng dậy và đi lại xung quanh hoặc bạn tắt đèn, nhắm mắt lại, và thư giãn cơ thể băng cách đặt chân lên cao.

Điều chỉnh kế hoạch làm việc: Khi thấy mệt quá bạn nên giải quyết những công việc quan trọng, cần thiết nhất. Còn việc nhỏ nhặt để sau .

Giảm bớt các hoạt động không cần thiết: Nghỉ ngơi là rất cần thiết cho phụ nữ khi mang thai. Vậy để dành được nhiều thời gian thư giãn trong ngày nghỉ thì bạn có thể mua sắm trực tuyến hoặc thuê người dọn dẹp nhà cửa… thay vì tự làm mọi việc.

Tập thể dục đều đặn: Sau một ngày làm việc bạn nên cố gắng duy trì tập các bài thể dục như là thường xuyên đi bộ hoặc là tham gia vào khóa học dành riêng cho các bà mẹ với sự tư vấn của bác sĩ. Đó là cách tốt nhất để các thai phụ có một cơ thể khỏe mạnh và tinh thần thư thái.


Một số lời khuyên cho thai phụ khi làm việc

Trong suốt thời kì mang thai , phụ nữ thường thấy rằng ngồi xuống và đứng lên thật bất tiện. Để mang lại cảm giác thoải mái thì có một số cách sau:

Ngồi: Cần có cái ghế ngồi vững chắc, mà tay vịn điều chỉnh được, có nệm dựa phía sau thì sẽ mang lại cho bạn dễ chịu khi ngồi . Nếu không thì bạn có thể đặt cái gối êm nhỏ để tựa và tìm một vật gì đó để gác chân cho thoải mái.

Đứng: Đứng quá lâu gây ra tụ máu và các chất lỏng sẽ bị ứ lại ở chân dẫn đến phù chân hoặc làm giãn tĩnh mạch, dễ bị mỏi lưng. Khi đó bạn hãy ngồi xuống và đặt chân lên một hộp hay bàn để chân. Hoặc đi lại trong những giờ giải lao cùng với đôi giày vừa vặn.

Cúi xuống và nâng lên: Để không làm ảnh hưởng đến thai nhi thì khi bạn vận chuyển cần lựa chọn tư thế phù hợp, cụ thể như sau:

Dù nâng vật nhẹ thì trước tiên bạn ngồi xuống, nhấc vật lên, và giữ lưng thẳng. Tiếp đó bạn phải dồn trọng lượng vào chân, chùng đầu gối rồi nâng vật từ từ, và tránh xoay người khi nâng.

Giảm stress trong thời kì mang thai

Trong thai kỳ sự căng thẳng công việc gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của mẹ và bé. Dưới đây là lời khuyên giúp các bà mẹ hạn chế tối thiểu thứ cảm xúc tiêu cực này:

Kiểm soát công việc: Lên danh sách công việc và ưu tiên những nhiêm vụ cần làm hoặc bạn có thể giao phó cho người khác.

Tĩnh tâm: Khi bị stress tốt nhất bạn nên quay sang trò chuyện hài hước cùng mọi người xung quanh. Nếu không thì bạn cố phớt lờ nó.

“Chia sẻ” sự căng thẳng: Nhận được sự đồng cảm của các đồng nghiệp, hoặc chồng, bạn sẽ thấy trong lòng thật nhẹ nhõm, thoải mái

Thư giãn: Thở từ từ và tưởng tượng bạn đang ở một nơi tĩnh lặng là biện pháp tốt nhằm giảm stress. Hoặc bạn thử tham gia một khóa học yoga dành riêng cho các bà bầu.
 
Khi mang thai phụ nữ phải kiêng kị những gì?

Khi công năng tạng phủ của người mẹ bình thường, khí huyết thịnh vượng, thai nhi sẽ sinh trưởng, phát triển mạnh khỏe. Vì vậy, người mẹ mang thai cần ăn uống các thức giàu thành phần dinh dưỡng như: thịt nạc, trứng, cá, rau, hoa quả, thịt gia cầm, như vậy sẽ có lợi cho thai nhi phát triển bình thường.

Kiêng kị những thức kích thích

Khi mang thai, phụ nữ cần ăn uống các chất giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa, các thức giàu protein và trái cây, các thức ăn uống phải sạch. Cần kiêng ăn uống các thức có tính chất kích thích, kiêng thuốc lá, rượu, kiêng ăn uống thiên lệch. Bởi vì, sau khi thụ thai, sự sinh trưởng phát triển của thai nhi phải nhờ vào tinh huyết từ tạng phủ của người mẹ để nuôi dưỡng, cho nên công năng khí huyết của tạng phủ người mẹ mang thai có ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng, phát triển của thai nhi.

Khi công năng tạng phủ của người mẹ bình thường, khí huyết thịnh vượng, thai nhi sẽ sinh trưởng, phát triển mạnh khỏe. Vì vậy, người mẹ mang thai cần ăn uống các thức giàu thành phần dinh dưỡng như: thịt nạc, trứng, cá, rau, hoa quả, thịt gia cầm, như vậy sẽ có lợi cho thai nhi phát triển bình thường.

Nếu sau khi mang thai, người mẹ ăn uống thiên lệch thường xuyên, sẽ có thể làm giảm dinh dưỡng ở người mẹ, bất lợi cho sự hấp thụ dinh dưỡng và sinh trưởng phát triển của thai nhi. Nếu sau khi mang thai, người mẹ thường xuyên ăn uống các thức có tính chất kích thích như: hạt tiêu, ớt, tỏi, thì sẽ dẫn đến thấp nhiệt trong người mạnh lên, cũng như bất lợi cho sự sinh trưởng của thai nhi, nghiêm trọng hơn có thể gây ra dấu hiệu sinh non.

Người mẹ mang thai cần phải kiêng thuốc lá, rượu, nếu người mẹ uống rượu sẽ làm cho nồng độ cồn cao lâu dài ở tử cung, sẽ dễ trợ hỏa, sinh nhiệt, động huyết, có thể gây ra khuyết tật ở sọ, mặt, tay chân và tim của thai nhi, sẽ làm cho sự phát triển thể chất và tinh thần của thai nhi trong tử cung bị chậm lại. Ngộ độc cồn có thể làm tăng tỷ lệ phát bệnh sinh non và tỷ lệ thai nhi bị chết lưu trong bụng mẹ. Người mẹ mang thai dù hút thuốc nhiều hoặc hút thuốc thụ động, đều có thể dẫn đến quái thai hoặc sinh non, vì vậy đối với phụ nữ mang thai cần cấm hẳn việc hút thuốc và uống rượu.

Kiêng ăn quá mặn

Phụ nữ mang thai còn cần phải kiêng ăn quá mặn. Khi mang thai, do phản ứng của thai nghén, thấy nhạt miệng vô vị, nên thích ăn uống các thức có tính kích mạnh, thích ăn các thức mặn, nói chung người ta hay cho đó là chuyện bình thường, coi nhẹ việc kiêng ăn quá mặn của phụ nữ mang thai.

Vì sao phải kiêng ăn quá mặn? Các nhà y học cho rằng, phụ nữ trong thời kỳ thai nghén, tỳ và thận thường biểu hiện không đủ, công năng vận hóa giảm, thủy thấp dễ tích tụ bên trong, khí huyết không được khoan thai. Y học hiện đại cũng cho rằng, phụ nữ khi đã có thai, sẽ có những thay đổi đặc biệt về sinh lý như lượng natri, máu lưu trữ tương đối nhiều, những thay đổi đó trong tổ chức các tạng của cơ thể là nhằm thích ứng với yêu cầu sinh trưởng của thai nhi. Những thức quá mặn lại có hàm lượng muối tương đối cao, nếu được đưa vào nhiều sẽ làm cho thủy thấp tụ lại bên trong nặng hơn, lại dễ hại đến tỳ và thận, làm cho chức năng tỳ và thận giảm, gây ra sự giảm sút trong việc thu nạp năng lượng, tiểu tiện ít hơn, và các triệu chứng tim hồi hộp, làm buồn bực khó chịu.

Y học hiện đại nhận thấy rằng: phụ nữ trong thời kỳ thai nghén lượng máu tuần hoàn tăng, quá trình thay cũ đổi mới cũng nhanh hơn, nhằm thích ứng với sự tuần hoàn của đế cuống rốn. Nếu lúc đó lại đưa vào thức ăn mặn quá nhiều, trữ lượng natri trong cơ thể sẽ tăng cao hơn nữa, và lượng muối cũng sẽ tăng tương ứng, điều đó chẳng những làm cho tim của phụ nữ mang thai phải gánh chịu nặng hơn, sẽ biểu hiện các triệu chứng: tim hồi hộp, lòng buồn bực khó chịu, lượng tiểu tiện giảm, nặng thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của thai nhi, như vậy cả phụ nữ mang thai và thai nhi đều bất lợi.

Sau khi mang thai vài tháng, các chất thải trong quá trình thay cũ đổi mới sẽ tăng lên, làm tăng gánh nặng cho thận tạng, ảnh hưởng đến công năng của tỳ và thận. Hơn nữa, lúc đó phần nhiều xuất hiện phù ở người và chân tay, nếu do tì hư là chính thì sẽ đồng thời thấy triệu chứng ăn ít, đại tiện phân nát, nếu do thận hư là chính thì thường kèm theo triệu chứng lưng mỏi, tay chân lạnh, tiểu tiện ngắn và ít, nếu do khí trệ thì thường thấy lòng buồn bực khó chịu, hông đầy trướng, đấy là chứng phù do thai nghén, y học Trung Quốc gọi đó là "Tử khí" (khí của con) "Tử thũng" (phù do con).

Y học hiện đại cho rằng: thời kỳ thai nghén do sự thay đổi hormone, có thể làm cho nước và natri lưu trữ, ngoài ra ở thời kỳ này còn sinh ra thiếu máu do máu bị pha loãng, áp suất thẩm thấu của huyết tương giảm, tĩnh mạch dưới lồng ngực cản trở khi máu quay về làm cho lượng lưu thông máu tăng lên, những nhân tố ấy đều có thể dẫn đến thũng nước. Lúc đó cần phải giảm thấp lượng muối trong ăn uống, mỗi ngày chỉ dùng hạn chế muối từ 3-5g, để giảm trữ lượng nước và muối.

Cũng như y học Trung Quốc chủ trương ăn uống thanh đạm, yêu cầu ăn nhạt là chính. Hàng ngày có thể uống sữa đậu nành nhạt hoặc sữa đậu nành ngọt. Nếu trong thời gian phù không kiêng ăn mặn thì sẽ làm tăng trữ lượng nước và muối, khiến phù càng thêm nặng, các triệu chứng váng đầu, nhức đầu, ngực khó chịu, buồn nôn, ăn uống không thấy ngon. Nếu nghiêm trọng hơn, sẽ xuất hiện phù kèm theo huyết áp cao, tiểu đục như lòng trắng trứng, dẫn tới nguy hiểm cho con, trên lâm sàng xuất hiện triệu chứng nguy kịch: nhiễm độc thai nghén.

Vì vậy, phụ nữ trong thời gian mang thai, dù ở giai đoạn ban đầu, thời kỳ thũng nước hay thời kỳ huyết áp cao, đều phải kiêng ăn mặn, việc khống chế lượng muối đưa vào cơ thể là hết sức quan trọng.

Theo Sức khoẻ và đời sống
 
 
Nên ăn bao nhiên cá trong thai kỳ?
Các chuyên gia tranh luận với nhau về việc nên và không nên ăn cá, vì nguy cơ phơi nhiễm thủy ngân.


Theo thông tin từ Healthday news, vào thứ bảy 11 tháng tư, thì những người phụ nữ mang thai nên thêm cá biển vào chế độ ăn của họ để cung cấp dưỡng chất tối ưu nhất cho sự phát triển của cả mẹ và thai nhi, đây là điều mà nhiều chuyên gia đồng tình ủng hộ. Nhưng những bà mẹ tương lai nên ăn bao nhiêu cá biển trong một tuần là tốt nhất để những đứa bé trong bụng họ không bị phơi nhiễm với nồng độ cao thủy ngân là điều mà đang được tranh luận.

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ khuyên các bà mẹ tương lai không nên ăn hơn 12 ounces (khoảng 300gram) một tuần, nhưng Hội các nhà dinh dưỡng và y khoa cho rằng các bà mẹ tương lai cần ít nhất là 12 ounces một tuần.

Bác sĩ Judy Meehan, giám đốc điều hành của Viện sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em, một tổ chức tận tụy truyền đạt những thông tin khoa học mới nhất cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ em, nói rằng: “Những dữ liệu gần đây cho chúng tôi thấy rằng phụ nữ vẫn chưa ăn đủ số lượng cá cần thiết, và đây là điều đáng báo động. Không có cách nào đơn giản hơn để hấp thu những acid béo có chứa omega-3 cho việc phát triển của não bộ bằng việc ăn cá.

Cá có chứa đầy đủ các loại acid béo có omega-3, một loại acid béo rất cần thiết cho sự phát triển của bộ não chúng ta.

Việc ăn cá giới hạn như khuyến cáo của chính phủ, thực tế, là một điều “có hại hơn là có lợi cho sự phát triển não bộ của đứa bé”. Đây là phát ngôn của các nhà nghiên cứu Anh và Mỹ báo cáo trên tạp chí The Lancet vào năm 2007. Cuộc nghiên cứu của họ thấy rằng những đứa trẻ có mẹ ăn cá đầy đủ ít nhất ba lần một tuần trong thai kỳ thì những xét nghiệm chức năng thần kinh có kết quả tốt hơn.

Trong một cuộc nghiên cứu khác, bác sĩ Emily Oken, thuộc khoa Chăm sóc và Ngăn ngừa bệnh của Trường y khoa Harvard và Trung tâm chăm sóc sức khỏe Harvard Pilgrim ở Boston, đã kiểm tra sự cân bằng giữa lợi ích dinh dưỡng và các chất độc trong việc ăn cá trong thai kỳ. Bác sĩ và cộng sự đã hỏi 341 phụ nữ về việc họ ăn cá như thế nào trong ba tháng giữa của thai kỳ, và kiểm tra nồng độ thủy ngân trong máu của họ. Khi những đứa con của họ được ba tuổi, thì những đứa bé này sẽ được đánh giá về trí thông minh và khả năng vận động của chúng.

Bác sĩ Oken nói rằng: “Các điểm số kiểm tra thì rất cao ở những đứa trẻ có mẹ ăn cá đầy đủ trong hơn hai tuần (tính tổng số) và có nồng độ thủy ngân rất thấp, điều này cho thấy rằng lợi ích lớn nhất xuất hiện khi những thai phụ ăn cá có nồng độ thủy ngân thấp. Thậm chí những thai phụ mà ăn cá hồi nhiều hơn hai lần một tuần trong thai kỳ sẽ sinh ra những đứa bé thông minh hơn so với những thai phụ không ăn cá hồi trong thai kỳ”.

Một cuộc nghiên cứu khác tiến hành với 25.446 trẻ em sinh ra ở Đan Mạch. Thì những đứa bé có mẹ ăn nhiều cá trong thai kỳ sẽ có điểm số kiểm tra về vận động và nhận thức cao hơn so với con của những bà mẹ ăn ít cá trong thai kỳ.

Bác sĩ Oken giả thích: “So sánh với những thai phụ ăn ít cá trong thai kỳ, thì những thai phụ mà ăn nhiều cá trong thai kỳ - trung bình khoảng 14 ounce (khoảng 350gram)- sẽ có những đứa con phát triển tốt hơn 30%, giống như khả năng của đứa bé lớn hơn một tháng tuổi hoặc được bú sữa mẹ hơn một năm”.

Viện sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em là một thành phần của Tổ chức Dinh dưỡng cho Bà mẹ, một tổ chức tự do của các nhà lâm sàng, nhà nghiên cứu, và chuyên gia về dinh dưỡng, vào năm 2007 đã khuyến khích các bà mẹ tương lai thêm cá vào chế độ ăn của mình. Và mối quan tâm là nhiều thai phụ dịch những hướng dẫn của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, xem đó như là một cảnh báo và hạn chế ăn cá.

Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ khuyên các bà mẹ tương lai không nên ăn những loại cá sau đây vì có chứa nhiều thủy ngân hoặc có chứa những chất có hại cho sự phát triển hoặc sự phát triển thần kinh của đứa bé gồm những loại cá như: cá mập, cá kiếm, cá thu đại dương, và tilefish.

Bác sĩ Meehan nói: “Không ăn cá không phải là điều tốt, cá là thứ quan trọng giúp cho sự phát triển não bộ của đứa bé”.

Le Quyen
(Theo HealthDay)
 
Mang thai rồi sinh con không chỉ có niềm vui mà còn có cả nỗi thấp thỏm lo âu. Để tăng cường sức khỏe trong giai đoạn mang thai và nuôi con các chuyên gia mới đây giới thiệu 10 loại thực phẩm được xem là tốt ưu cho nhóm người này.

1. Cá hồi

Phải nói ngay rằng không có thứ thực phẩm nào hoàn hảo cả nhưng cá hồi đã được khoa học xếp đầu bảng về dưỡng chất cho những người mang thai lần đầu, nhất là giai đoạn cho con bú.

Lý do, cá hồi có chứa loại mỡ tốt DHA, có tác dụng giúp trẻ phát triển trí tuệ, thần kinh và sữa mẹ ở những người ăn uống cân bằng, khoa học sẽ có hàm lượng mỡ DHA cao.

Ngoài ra, chính mỡ DHA còn giúp cho bản thân người mẹ cải thiện tâm tính, ngăn ngừa bệnh trầm cảm sau sinh.

Tuy nhiên, theo Cơ quan quản lý Thực - Dược phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo chỉ nên ăn điều độ, nhất là cá có hàm lượng thủy ngân thấp hoặc các loại cá khác như cá kiếm, cá mackerel, cá ngói v.v...
2. Các loại sản phẩm bơ sữa có hàm lượng mỡ thấp
Các loại sản phẩm bơ có hàm lượng mỡ thấp được xem là nguồn cung cấp protein, canxi, vitamin B và vitamin D rất tốt cho phụ nữ khi mang thai và nuôi con.

Nó không chỉ tăng cường sức khỏe cho người mẹ mà còn tốt cho cả đứa trẻ tương lai. Mỗi ngày nên dùng 3 suất (mỗi suất tương đương một cốc nhỏ)

3. Thịt bò nghèo
Thịt bò nghèo (lean beef) là nhóm thực phẩm có tác dụng tăng cường sinh lực, năng lượng bởi nó có hàm lượng sắt cao, ít mỡ.
Sở dĩ những người phụ nữ mang thai sinh con thiếu sữa là do cơ thể sử dụng triệt để nguồn khoáng chất này cho việc phát triển của trẻ.

Ngoài sắt, sau khi sinh phụ nữ còn cần nhiều tới vitamin B12 và thịt bò nghèo đích thực là thực phẩm đảm nhận tốt phần thiếu hụt nói trên.

4. Đậu đỗ các loại
Đậu đỗ các loại, nhất là các loại thực phẩm thẫm màu được xem là nguồn thực phẩm tốt nhất cho phụ nữ giai đoạn cho con bú, đặc biệt là nhóm người ăn chay, vì nó giàu sắt và nguồn protein phi động vật tốt nhất cho cơ thể con người.

5. Gạo nâu
Gạo nâu (Brown Rice) hay còn gọi là gạo lức có tác dụng tốt trong việc giảm cân cho cả sản phụ lẫn trẻ sơ sinh mà không gây mệt mỏi vì đây là loại thực phẩm carbohydrate nguyên chất rất tốt, giúp cơ thể sản phụ sản xuất ra loại sữa có chất lượng cao, cả về calo lẫn vitamin, khoáng chất.

6. Quả việt quất
Quả việt quất (Blueberries) là loại thực phẩm rất hữu ích, nên uống 2 suất nước ép của loại quả này mỗi ngày vì nó có chứa hàm lượng chất chống ôxi hóa, các loại vitamin, khoáng chất giúp cơ thể hoạt động dẻo dai và không bị mệt mỏi.

7. Cam
Cam là loại thực phẩm giàu dưỡng chất có tác dụng rất tốt trong việc cung cấp năng lượng cho những người phụ nữ sinh con.

Theo nghiên cứu thì cơ thể những người vừa sinh có thể rất cần vitamin C. Theo đó cam chanh các loại, các loại quả chua là nguồn thực phẩm giàu chất bổ này.

Ngoài ra có thể các loại nước ép hoa quả khác, nước đóng chai tăng cường canxi sẽ có lợi cho cơ thể.

8. Trứng

Lòng đỏ trứng là thực phẩm tự nhiên giàu vitamin D giúp cho xương cốt của người mẹ lẫn đứa trẻ cứng cáp.

Trứng là thực phẩm thỏa mãn nhu cầu protein hàng ngày, nên ăn 2 quả vào bữa sáng nhưng nhớ phải chế biến kỹ, không nên ăn sống.

Bên cạnh ăn trứng trực tiếp có thể dùng các chế phẩm trứng được tăng cường DHA để tăng nguồn axit béo trong nguồn sữa mẹ.

9.Bánh mỳ nguyên chất
Sử dụng bánh mỳ nguyên chất khi mang thai, nhất là giai đoạn 3 tháng đầu sẽ có tác dụng tốt cho quá trình phát triển của trẻ. Đây là nhóm thực phẩm giàu các loại đạm hữu ích, chất xơ và sắt.

10. Rau xanh dạng lá
Rau dạng lá không chỉ tốt cho phụ nữ giai đoạn mang thai mà còn tốt cho tất cả mọi người, Bao gồm súp lơ, bắp cải, rau bina, cải xoăn v.v...
Đây là nguồn cung cấp vitamin A cho trẻ thông qua nguồn sữa mẹ, nhất là nguồn vitamin C, sắt cũng như các chất chống ôxi hóa.
Chưa hết, nhóm thực phẩm này còn có hàm lượng calo thấp, ngon miệng, dễ ăn và giúp cải thiện tâm tính.

11. Các loại ngũ cốc nguyên chất
Lợi thế của nhóm thực phẩm này là nguồn cung cấp năng lượng giúp cơ thể ăn ngủ tốt.

Nên ăn vào bữa sáng, dưới dạng nguyên chất hoặc tăng cường vitamin, dưỡng chất để thỏa mãn nhu cầu tiêu hao năng lượng mỗi ngày.

12. Nước
Khát nước là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh nan y giai đoạn thai kỳ lẫn giai đoạn nuôi con vì vậy cung cấp đủ nước cho cơ thể sẽ làm giảm được rủi ro mắc bệnh.

Nó có tác dụng giúp cơ thể sản xuất sữa, vì vậy mỗi ngày nên uống ít nhất 8 cốc, kể cả nước lọc, nước hoa quả, sữa, nước rau luộc, thịt hầm vv...nhưng nên tránh các loại nước có chứa caffein, chè, rượu, bia vì đây là đồ uống có thể làm cho cơ thể khát thêm hoặc làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sữa của cơ thể.
Điều hoà nước khi mang thai
Để duy trì sức khỏe tốt, dung dịch chất lỏng đưa vào và thải ra khỏi cơ thể cần phải được cân bằng. Mỗi ngày cơ thể cần sử dụng khoảng 2,5 lít chất lỏng trong các loại nước uống và trong thực phẩm, nhất là rau, trái cây…
Đồng thời có chừng 1,5 lít nước mất đi qua nước tiểu, mồ hôi, hơi thở .. nên số lượng này cần được cung cấp bù vào.

Điều hòa nước

Nước cần được liên tục ra vào cơ thể dưới một số cơ chế điều hòa:

a) Khát nước là dấu hiệu báo động sự thiếu và cần nước của cơ thể. Trung tâm điều hòa cảm giác khát nằm ở bộ phận hypothalamus trong não bộ và giữ vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nước trong cơ thể. Bình thường, ta uống nước khi cảm thấy khát. Lý do là khi nước xuống thấp, khối lượng máu giảm theo, nồng độ natri hơi tăng cao, trung tâm được kích thích khiến ta thấy khát và tìm nước hoặc chất lỏng khác để uống.

b) Nước bọt không tiết ra khiến miệng khô cũng là một kích thích để uống nước.

c) Khi nước giảm, hormon chống tiểu tiện (antidiuretic hormone – ADH) được tuyến yên tiết ra nhiều hơn, thận sẽ tái hấp thụ nước trở lại máu. Ngược lại, khi có nhiều nước thì hormon ADH giảm đi, thận tăng tốc độ bài tiết nước dư.

d) Một số bệnh về thận hoặc bệnh nội tiết cũng ảnh hưởng tới sự thăng bằng nước.
Các cơ chế điều hòa này đôi khi cũng gặp trục trặc nên dẫn đến tình trạng khô nước (dehydration) với hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra, nhất là trẻ em, người cao tuổi và các vận động viên thể thao.

Ngoài ra, khi natri thải ra nhiều sẽ kéo theo nước và đưa tới khô nước. Ngược lại, hàm lượng cao của natri trong cơ thể sẽ giữ nước lại, làm cơ thể sưng phù hoặc tăng huyết áp.
Uống nước qua nhu cầu cũng đưa tới tình trạng ngộ độc nước (water intoxication). Chẳng hạn khi giảm béo phì theo chế độ ăn và tăng uống nước, thận không kịp bài tiết nước, nước xâm nhập tế bào, làm mất thăng bằng muối khoáng. Các chức năng tế bào đình trệ, đưa tới kinh phong, hôn mê và có thể chết người.
Tác giả
#119561
13/04/2010 06:39 PM
5 điều nên làm khi mang thai để bé thông minh
 
Để bé sinh ra khỏe mạnh, thông minh bạn phải làm những gì trong chín tháng mười ngày bầu bí.
 
Với 5 bước đơn giản trong cách thực hiện nhưng vẫn đem lại hiệu quả cho các mẹ trong thời kỳ bầu bí để bé sinh ra khỏe mạnh, thông minh.

1. Dưỡng thần

Tâm lý thoải mái, tinh thần sảng khoái không chỉ giúp tăng cường hệ miễn dịch cho mẹ mà còn thúc đẩy lưu thông máu giúp cho bé hấp thụ một cách tốt nhất các chất dinh dưỡng. Chính vì vậy ngoài những giờ làm việc bạn hãy tích cực giao tiếp xã hội, đọc sách, nghe nhạc…Đó đều là những cách giải trí có kích thích tích cực đến tinh thần của mẹ và não bộ của bé.

2. Sinh hoạt điều độ

Người mẹ cần phải tuân thủ cách sống khoa học, lành mạnh: không thức khuya, không ăn quà vặt, không hút thuốc lá, uống rươu bia…Vì những điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não bộ của bé khi ở trong bụng mẹ.

3. Vận động thường xuyên

Trong thời kỳ bầu bí nếu mẹ chịu khó vận động, tăng cường tập luyện thể thao sẽ rất tốt cho việc sinh nở sau này. Có nhiếu cách vận động để bạn lựa chọn ví dụ như tập Aerobics, đi bộ, bơi lội, đánh cầu lông…

4.  Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng

Không chỉ ăn cho một mà người mẹ phải ăn cho hai người chính vì vậy lượng thực phẩm cần phong phú và đa dạng cả về chủng loại lẫn màu sắc. Để đảm bảo cơ thể không bị thiếu sắt bạn cần “nạp” một lượng đáng kể protein, vitamin B12, các loại thịt cá, tôm, trứng, rau củ quả, mộc nhĩ, táo đỏ…
 
5. Thuốc bổ cho trí thông minh của bé
 
Đây là cách mà phụ nữ Trung Quốc vẫn áp dụng trong thời kỳ bầu bí để tăng cường trí thông minh cho bé. Cách làm như sau : đảng sâm 15g, táo đỏ 15 quả cho vào nấu canh hoặc pha giống như pha chè uống hàng ngày.
 
Trang MT
Theo Xinhua
Tác giả
#119562
21/04/2011 09:58 AM
Những bà bầu chịu khó ăn [B][URL="http://e-food.vn/cms.php?id_cms=94"]một quả trứng [/URL][/B]mỗi ngày từ tháng thứ 4, thứ 5 trở đi sẽ rất tốt cho sự phát triển của thai nhi.
Tác giả
#119563
17/11/2011 04:01 PM

Kiêng kị những thức kích thích

Khi mang thai, phụ nữ cần ăn uống các chất giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa, các thức giàu protein và trái cây, các thức ăn uống phải sạch. Cần kiêng ăn uống các thức có tính chất kích thích, kiêng thuốc lá, rượu, kiêng ăn uống thiên lệch. Bởi vì, sau khi thụ thai, sự sinh trưởng phát triển của thai nhi phải nhờ vào tinh huyết từ tạng phủ của người mẹ để nuôi dưỡng, cho nên công năng khí huyết của tạng phủ người mẹ mang thai có ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng, phát triển của thai nhi.

 Thuốc lá có thể gây dị dạng, sinh non.

Khi công năng tạng phủ của người mẹ bình thường, khí huyết thịnh vượng, thai nhi sẽ sinh trưởng, phát triển mạnh khỏe. Vì vậy, người mẹ mang thai cần ăn uống các thức giàu thành phần dinh dưỡng như: thịt nạc, trứng, cá, rau, hoa quả, thịt gia cầm, như vậy sẽ có lợi cho thai nhi phát triển bình thường.

Nếu sau khi mang thai, người mẹ ăn uống thiên lệch thường xuyên, sẽ có thể làm giảm dinh dưỡng ở người mẹ, bất lợi cho sự hấp thụ dinh dưỡng và sinh trưởng phát triển của thai nhi. Nếu sau khi mang thai, người mẹ thường xuyên ăn uống các thức có tính chất kích thích như: hạt tiêu, ớt, tỏi, thì sẽ dẫn đến thấp nhiệt trong người mạnh lên, cũng như bất lợi cho sự sinh trưởng của thai nhi, nghiêm trọng hơn có thể gây ra dấu hiệu sinh non.

Người mẹ mang thai cần phải kiêng thuốc lá, rượu, nếu người mẹ uống rượu sẽ làm cho nồng độ cồn cao lâu dài ở tử cung, sẽ dễ trợ hỏa, sinh nhiệt, động huyết, có thể gây ra khuyết tật ở sọ, mặt, tay chân và tim của thai nhi, sẽ làm cho sự phát triển thể chất và tinh thần của thai nhi trong tử cung bị chậm lại. Ngộ độc cồn có thể làm tăng tỷ lệ phát bệnh sinh non và tỷ lệ thai nhi bị chết lưu trong bụng mẹ. Người mẹ mang thai dù hút thuốc nhiều hoặc hút thuốc thụ động, đều có thể dẫn đến quái thai hoặc sinh non, vì vậy đối với phụ nữ mang thai cần cấm hẳn việc hút thuốc và uống rượu.

Kiêng ăn quá mặn

Phụ nữ mang thai còn cần phải kiêng ăn quá mặn. Khi mang thai, do phản ứng của thai nghén, thấy nhạt miệng vô vị, nên thích ăn uống các thức có tính kích mạnh, thích ăn các thức mặn, nói chung người ta hay cho đó là chuyện bình thường, coi nhẹ việc kiêng ăn quá mặn của phụ nữ mang thai. Vì sao phải kiêng ăn quá mặn? Các nhà y học cho rằng, phụ nữ trong thời kỳ thai nghén, tỳ và thận thường biểu hiện không đủ, công năng vận hóa giảm, thủy thấp dễ tích tụ bên trong, khí huyết không được khoan thai. Y học hiện đại cũng cho rằng, phụ nữ khi đã có thai, sẽ có những thay đổi đặc biệt về sinh lý như lượng natri, máu lưu trữ tương đối nhiều, những thay đổi đó trong tổ chức các tạng của cơ thể là nhằm thích ứng với yêu cầu sinh trưởng của thai nhi. Những thức quá mặn lại có hàm lượng muối tương đối cao, nếu được đưa vào nhiều sẽ làm cho thủy thấp tụ lại bên trong nặng hơn, lại dễ hại đến tỳ và thận, làm cho chức năng tỳ và thận giảm, gây ra sự giảm sút trong việc thu nạp năng lượng, tiểu tiện ít hơn, và các triệu chứng tim hồi hộp, làm buồn bực khó chịu. Y học hiện đại nhận thấy rằng: phụ nữ trong thời kỳ thai nghén lượng máu tuần hoàn tăng, quá trình thay cũ đổi mới cũng nhanh hơn, nhằm thích ứng với sự tuần hoàn của đế cuống rốn. Nếu lúc đó lại đưa vào thức ăn mặn quá nhiều, trữ lượng natri trong cơ thể sẽ tăng cao hơn nữa, và lượng muối cũng sẽ tăng tương ứng, điều đó chẳng những làm cho tim của phụ nữ mang thai phải gánh chịu nặng hơn, sẽ biểu hiện các triệu chứng: tim hồi hộp, lòng buồn bực khó chịu, lượng tiểu tiện giảm, nặng thì sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của thai nhi, như vậy cả phụ nữ mang thai và thai nhi đều bất lợi.

Sau khi mang thai vài tháng, các chất thải trong quá trình thay cũ đổi mới sẽ tăng lên, làm tăng gánh nặng cho thận tạng, ảnh hưởng đến công năng của tỳ và thận. Hơn nữa, lúc đó phần nhiều xuất hiện phù ở người và chân tay, nếu do tì hư là chính thì sẽ đồng thời thấy triệu chứng ăn ít, đại tiện phân nát, nếu do thận hư là chính thì thường kèm theo triệu chứng lưng mỏi, tay chân lạnh, tiểu tiện ngắn và ít, nếu do khí trệ thì thường thấy lòng buồn bực khó chịu, hông đầy trướng, đấy là chứng phù do thai nghén, y học Trung Quốc gọi đó là “Tử khí” (khí của con) “Tử thũng” (phù do con). Y học hiện đại cho rằng: thời kỳ thai nghén do sự thay đổi hormone, có thể làm cho nước và natri lưu trữ, ngoài ra ở thời kỳ này còn sinh ra thiếu máu do máu bị pha loãng, áp suất thẩm thấu của huyết tương giảm, tĩnh mạch dưới lồng ngực cản trở khi máu quay về làm cho lượng lưu thông máu tăng lên, những nhân tố ấy đều có thể dẫn đến thũng nước. Lúc đó cần phải giảm thấp lượng muối trong ăn uống, mỗi ngày chỉ dùng hạn chế muối từ 3-5g, để giảm trữ lượng nước và muối.

Cũng như y học Trung Quốc chủ trương ăn uống thanh đạm, yêu cầu ăn nhạt là chính. Hàng ngày có thể uống sữa đậu nành nhạt hoặc sữa đậu nành ngọt. Nếu trong thời gian phù không kiêng ăn mặn thì sẽ làm tăng trữ lượng nước và muối, khiến phù càng thêm nặng, các triệu chứng váng đầu, nhức đầu, ngực khó chịu, buồn nôn, ăn uống không thấy ngon. Nếu nghiêm trọng hơn, sẽ xuất hiện phù kèm theo huyết áp cao, tiểu đục như lòng trắng trứng, dẫn tới nguy hiểm cho con, trên lâm sàng xuất hiện triệu chứng nguy kịch: nhiễm độc thai nghén.

Vì vậy, phụ nữ trong thời gian mang thai, dù ở giai đoạn ban đầu, thời kỳ thũng nước hay thời kỳ huyết áp cao, đều phải kiêng ăn mặn, việc khống chế lượng muối đưa vào cơ thể là hết sức quan trọng.

theo sức khỏe và đời sống

Chuyển đến:
Chia sẻ qua PNN Connect
Bình luận
Ảnh
Video
Mã nhúng
Bình luận của bạn phải gõ bằng tiếng Việt có dấu và có nội dung lành mạnh, không mang nội dung phản động, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam. Bình luận có nội dung xấu sẽ bị xóa bỏ.

Thống kê
Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 566376
Diễn Đàn hiện có 75377 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký nguyenlan17101698